vanban.org

Bản án 17/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Thị Đ: 40.000.000 đồng. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thị Đ phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày: 27 - 02 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Bội Khánh

Bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/QĐST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Thị Đ; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 05/2/1976, tại: Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT: Xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Tiến T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L; có chồng là Ma Quang T1 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2003; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1968, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T Trần Phương D, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Nguyễn Duy K, trú tại xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và nhiều đối tượng khác. Quá trình điều tra xác định trước đó, Nguyễn Duy K còn có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Hà Thị Đ, Trần Phương D có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bản số lô, số đề với người sử dụng số điện thoại 0921.408.219. Hình thức đánh bạc cụ thể:

Đối với hành vi đánh Đ1. Người mua số để lựa chọn hai số bất kỳ trong dãy số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 và đặt cược số tiền với từng số. Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B trong ngày, nếu hai số của người mua chọn trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng cược với tỷ lệ 70.000₫/1.000₫ tiền đề đã mua, nếu không trúng thì người mua số đề bị thua số tiền đã mua;

Đối với hành vi đánh số Lô: Người mua số lô lựa chọn hai số bất kỳ trong dãy số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 và đặt cược số điểm lô với từng số, mỗi điểm lô thông thường được tính là 23.000đ/điểm lô (Điều nhận ghi hộ 22.000₫/ điểm với K). Khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B trong ngày, so sánh nếu hai số của người mua chọn trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào thì người mua thắng cược với tỷ lệ 80.000đ/điểm lô đã mua. Trong các giải thưởng xổ số có nhiều giải có hai số cuối trùng với số lô thì người mua số lô thẳng cược tương ứng với số lần có số giải thưởng trùng với số lô đã mua, nếu không trùng thì người mua số lô bị thua.

Ngày 30/01/2023, Nguyễn Duy K đến nhà hỏi và nhờ Điều ghi số lô, số đề hộ K, Đ đồng ý. Khuyến đọc cho Đ mua 01 số đề 79 với số tiền đánh là 200.000 đồng và 100 điểm lô số lô cũng là số 79, tương đương với số tiền là 2.200.000 đồng. K đưa cho Điều 2.400.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số miền B, Điều xác định K trúng 200.000 đồng tiền đề và 100 điểm lô. Tổng cộng K thắng bạc với số tiền là 22.000.000 đồng (tiền đề là 14.000.000đ, tiền lô 8.000.000đ). Ngày 01/02/2023, Điều nhắn tin qua zalo với K là K thắng 200.000đ tiền đề, 100 điểm lô thành tiền là 22.000.000đ, K nói thắp hương cho G (con gái Điều) số tiền 500.000đ. Điều sử dụng số tài khoản 8502205021976 (Ngân hàng A) của Hà Thị Điều chuyển đến số tài khoản 8502205066632 của K số tiền 21.500.000 đồng tiền (Khuyến thắng bạc). Như vậy số tiền đánh bạc của Điều và K ngày 30/01/2023 là 24.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 14/CT – VKS (P2), ngày 24/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hà Thị Điều về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Thị Đ từ 40 đến 45 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Truy thu số tiền đánh bạc và số tiền thu lợi bất chính như sau:

Hà Thị Đ số tiền: 2.900.000 đồng. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 2.900.000 đồng.

Nguyễn Duy K số tiền: 21.500.000 đồng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị giảm nhẹ mức phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

. Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 30/01/2023, Hà Thị Đ đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Nguyễn Duy K sinh năm 1968, trú tại xóm Q, xóm T huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với số: 79 đánh 100 điểm lô, tương ứng với 2.200.000 đồng và 200.000 đồng tiền đề. Kết qủa cuối ngày K trúng thưởng số lô, số đề với số tiền: 22.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền K và Điều đánh bạc là: 24.400.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội nà y hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. ….

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng…”

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự công cộng, vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục bị cáo.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn ăn hối cải, trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp số tiền 2.900.000 đồng là số tiền đánh bạc và tiền thu lợi bất chính nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính, vì vậy áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

. Về số tiền đánh bạc và tiền thu lợi bất chính cần truy thu: Quá trình điều tra xác định bị cáo Đ đánh bạc với Nguyễn Duy K số tiền 2.400.000 đồng; K thắng bạc được Điều trả số tiền 22.000.000 đồng; K cho Điều 500.000 đồng, vì vậy cần truy thu đối với Điều số tiền 2.400.000đ + 500.000đ = 2.900.000 đồng; truy thu đối với Nguyễn Duy K số tiền hưởng lợi là 21.500.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

. Liên quan đến vụ án có Nguyễn Duy K, Trần Phương D đã bị xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024-HSST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Thị Đ: 40.000.000 đồng.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự:

- Truy thu đối với bị cáo: Hà Thị Đ số tiền: 2.900.000 đồng;

- Truy thu đối với Nguyễn Duy K số tiền: 21.500.000 đồng. Để sung quỹ Nhà nước.

Ghi nhận bị cáo Hà Thị Đ đã nộp số tiền: 2.900.000 đồng, tại biên lai thu tiền số 0000050 ngày 23/02/2024 của Cục THADS tỉnh T.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Hà Thị Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ