vanban.org

Bản án 17/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 27/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đỗ Văn Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 25 tháng 12 năm 2023. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 28/THA ngày 01 thán…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày 27 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Khâm

Bà Nguyễn Thị Minh.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐ-HSST ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn Q, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 6/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Đỗ Văn Lý sinh năm 1957; con bà Nguyễn Thị L2 sinh năm 1958; vợ Hoàng Thị H, sinh năm 1986; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 03/01/2024, chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trực Ninh. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, Anh Nguyễn Văn C (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn Q là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25 tháng 12 năm 2023, Q mang theo 600.000đồng, điều khiển xe máy biển số 18Z8-7284 đến khu vực cầu L1, xã V, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy sử dụng. Q đi trên đoạn đường đê bên dưới gầm cầu thuộc xóm Chín xã V có gặp người đàn ông không quen biết đứng một mình ở dốc đê. Bị cáo đến hỏi mua 300.000đồng Heroin và 300.000đồng ma túy đá. Người đàn ông nhận tiền và đưa cho Q 02 túi nilon nhỏ màu trắng gồm 01 túi bên trong đựng 03 gói giấy màu trắng, 01 túi bên trong có chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng. Q kiểm tra biết đúng loại ma túy cần mua, cất vào túi áo véc bên phải đang mặc, điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi Q đang dừng xe trên đường dong thuộc xóm Chín, xã V thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

Thu trong túi áo véc bên phải Q đang mặc 02 túi nilon nhỏ màu trắng gồm: 01 túi nilon bên trong có đựng 03 gói giấy màu trắng, mở kiểm tra các gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 túi nilon bên trong có chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng. Q khai nhận đây là 03 gói ma túy Heroin và ma túy đá vừa mua cất giấu để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu A và A1.

Ngoài ra còn thu giữ 01 xe máy, biển kiểm soát 18Z8-7284.

Bản kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:

Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 03 gói giấy màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu A là ma tuý. Loại ma tuý: Heroin, tổng khối lượng mẫu A: 0,286 gam.

Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu A1 là ma túy. Loại ma túy: Methaphetamine, khối lượng mẫu A1: 0,130 gam.

Tại cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh, Đỗ Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONLEI, biển số 18Z8-7284, số máy MG310613529, số khung AA-10613300 là pH tiện Q sử dụng đi mua ma túy. Qua xác minh, chiếc xe máy là của chị Đào Thị Tuyết là chị râu bị cáo. Chị Tuyết cho Q mượn chiếc xe máy trên để làm pH tiện đi lại, không biết Q sử dụng xe máy trên đi mua ma túy nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho chị Tuyết.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q ngày 25/12/2023, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKS-TN ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố Đỗ Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đỗ Văn Q theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đều đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh NamĐịnh; lời khai của những người làm chứng nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25 tháng 12 năm 2023, Đỗ Văn Q có hành vi cất giấu trái phép 0,416 gam gồm: 0,286 gam Heroin và 0,130 gam Methamphetamine trong người, mục đích để sử dụng bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang tại đường dong thuộc xóm Chín, xã V, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Hành vi tàng trữ 0,416 gam ma túy của Đỗ Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS, như cáo trạng của VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo Đỗ Văn Q đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động mua bán, sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, thể hiện việc xem thường pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Do đó cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi của bị cáo và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: HĐXX xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ trình bày điều kiện hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 28/THA ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt Đỗ Văn Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 25 tháng 12 năm 2023.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 28/THA ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 BLTTHS, Nghị Q 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Văn Q phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, Q định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành dân sự./.

Cỡ chữ