vanban.org

Bản án 17/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Nguyễn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày: 05-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ái Hòa.

Ông Cao Hoài Hiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Đoàn Nguyễn D; sinh ngày 14-02-2003, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện tại: khu phố S, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Đoàn Văn T và bà Nguyễn Thị Phương D1; vợ, con: chua có; tiền sự, tiền án: không có; bị bắt tạm giữ ngày 20-12-2023, tạm giam ngày 23-12-2023 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20-12-2023, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, bị cáo Đoàn Nguyễn D mượn xe mô tô biển số 68P1- 8631 của người phụ nữ tên N (không rõ địa chỉ) đi đến khu vực cầu Trưởng Chừa thuộc khu phố G, phường B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 10 đoạn ống nhựa trong suốt, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy, để trong vỏ bao thuốc là nhãn hiệu “Hero” với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua xong, bị cáo cất giấu trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đến khu phố G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 2011/KL-KTHS ngày 22-12-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất rắn (ki hiệu M1) bên trong 10 (mười) đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 4,3536 gam.

Vật chứng thu giữ: Mẫu vật là ma túy hoàn lại sau giám định có khối lượng là 4,1453 gam; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Hero”; 01 xe mô tô, loại xe Wave, màu xanh, biển số 68P1-8631 số máy: RCIP52FMH00000820, số khung: không xác định (đã qua sử dụng).

Qua xác minh, bị cáo không có tài sản.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSTrB ngày 24-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Đoàn Nguyễn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Không phạt tiền bổ sung bị cáo. Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 4,1453 gam và vỏ bao thuốc lá hiệu “Hero”. Trả lại cho bị cáo xe mô tô loại xe Wave, màu xanh, biển số 68P1-8631 số máy: RCIP52FMH00000820, số khung: không xác định (đã qua sử dụng).

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được về với gia đình, làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Nguyễn D đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, các chứng cứ có trong hồ sơ, cùng lời luận tội của Kiểm sát viên. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20-12-2023, tại khu vực khu phố S, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Đoàn Nguyễn D có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 4,3536 gam với mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và đời sống xã hội; bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy.

[4] Xét về nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người nghiện ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo có ông nội là người có công với Cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Huân chương Quyết thắng hạng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Từ những nhận định trên, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

[7.1] Đối với khối lượng chất ma túy còn lại sau giám định còn lại là 4,1453 gam và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu “Hero” không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7.2] Đối với xe mô tô loại xe Wave, màu xanh, biển số 68P1-8631, số máy: RCIP52FMH00000820, số khung: không xác định (đã qua sử dụng), bị cáo khai mượn của 01 người tên N. Qua làm việc Cơ quan điều tra không xác định được họ, tên, năm sinh và địa của người tên N. Hội đồng xét xử nhận thấy xe không có liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị Công an thị xã Trảng Bàng xử phạt vi phạm hành chính xong.

[9] Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lý lịch nên chưa làm việc được. Việc Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau là có căn cứ.

[10] Như những nhận định trên, lời luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp, Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Nguyễn D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-12-2023.

Không phạt tiền bổ sung bị cáo.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Một gói niêm phong ghi số vụ 2011, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và Trợ lý Giám định viên Phan Quốc Việt có dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, là mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, khối lượng còn lại sau giám định là 4,1453 (bốn phẩy một bốn năm ba) gam và một vỏ bao thuốc lá hiệu “Hero”.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô, loại xe Wave, màu xanh, biển số 68P1-8631, số máy: RCIP52FMH00000820, số khung: không xác định, dung tích xi lanh 97 cm³ (đã qua sử dụng).

Tất cả những vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng đang quản lý.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ