vanban.org

Bản án 17/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 01/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[ 1 ] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Chu Ngọc H: 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 14/12/2023. [ 2 ] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Ngọc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [ 1 ] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày 01 tháng 3 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Văn Đạt.

Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bình: Kiểm sát viên:

Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/2/2024 đối với bị cáo:

Chu Ngọc H: Sinh năm 1987 tại xã Q, Q. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, nghề nghiệp lao động tự do, trình độ học vấn 12/12, dân tộc Kinh, giới tính N, tôn giáo không, quốc tịch Việt Nam, con ông Chu Ngọc B và bà Lê Thị K, vợ, Nguyễn Thị N1, con có 01 người năm tuổi, tiền án, tiền sự, nhân thân: Không, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 đến nay có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tại km 46 + 600 quốc lộ D đoạn qua xóm T, xã N, huyện Q, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số A Phòng PC 08 Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang đối tượng Chu Ngọc H có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vị trí ghế lái của xe ô tô 36C - 115.95 có 01 gói giấy bạc chứa 3 viên nén màu hồng nghi ma túy; Tại vị trí dưới tấm lót của ghế phụ phía trước có 01 gói ni lông màu trắng chứa chất bột màu trắng; 01 gói ni lông có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng chứa 17 viên nén màu hồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu Nissan, biển kiểm soát 36C - 115.95. Chu Ngọc H khai nhận toàn bộ số tang vật mà lực lượng công an thu giữ ở trên là ma túy do khoảng 20 giờ ngày 13/12/2023, Chu Ngọc H đến khu vực bệnh viện N2, tỉnh Thanh Hóa nhờ người lái xe không biết tên tuổi địa chỉ mua của người này 02 gói ma túy với giá 1.900.000 đồng về để sử dụng. Vào ngày 14/12/2023 Chu Ngọc H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C - 115.95 đi đến huyện Q thì bị bắt quả tang.

Về vật chứng vụ án:

Tổng số viên nén và chất màu trắng thu giữ có khối lượng 2,835 gam lấy 0,745 gam đi giám định còn lại 2,09 gam và vỏ bao niêm phong, giấy gói được niêm phong lại đúng quy định.

Kết luận giám định số 01/KL - KTHS (Đ2 - MT) ngày 19/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “- Các mẫu vật (ký hiệu M1, M4) thu giữ của Chu Ngọc H gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine.

- Số viên nén màu hồng (20 viên) thu giữ của Chu Ngọc H có tổng khối lượng là 2,045 g (Hai phẩy không trăm bốn mươi lăm gam).

- Các mẫu vật (ký hiệu M2, M3) thu giữ của Chu Ngọc H gửi tới giám định đều là ma túy; loại Ketamine.

- Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Chu Ngọc H có khối lượng 0,165 g (Không phẩy một trăm sáu mươi lăm gam).

- Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Chu Ngọc H có khối lượng 0,625 g (Không phẩy sáu trăm hai mươi lăm gam)”. Bản cáo trạng số: 12/CT-VKSQH, ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Chu Ngọc H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chu Ngọc H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 30 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định thu của Chu Ngọc H.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Nissan, biển kiểm soát 36C - 115.95 là xe của Công ty cổ phần Đ1 do anh Đỗ Ngọc Q, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là giám đốc, qua điều tra không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người đàn ông mua ma túy hộ cho bị cáo hiện tại không xác định được họ, tên, tuổi nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2 ] Những chứng cứ xác định có tội, chứng xác định không có tội.

Lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ thì bị cáo phạm tội như sau: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, km 46 + 600 quốc lộ D đoạn qua xóm T, xã N, huyện Q, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số A Phòng P Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang Chu Ngọc H đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 2,045 g (Hai phẩy không trăm bốn mươi lăm gam); 02 gói ma túy (Ketamine) có khối lượng 0,79 g (không phẩy bảy mươi chín gam) nhằm mục đích để sử dụng. Tổng khối lượng ma túy Chu Ngọc H tàng trữ trái phép là 2,835 g (Hai phẩy tám trăm ba mươi lăm gam). . Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Chu Ngọc H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

[ 3 ] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất của vụ án, đây là một vụ án nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm vào độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Do đó, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và góp phần phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Chu Ngọc H không có tiền án, tiền sự và nhân thân, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, trong học tập bị cáo được tặng Giấy khen, cha mẹ bị cáo là dân công hỏa tuyến đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo tốt trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[ 4 ] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin còn lại sau giám định thu của bị cáo Chu Ngọc H.

[ 5 ] Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[ 1 ] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

- Xử phạt bị cáo Chu Ngọc H: 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 14/12/2023.

[ 2 ] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 2,090 gam Hê rô in còn lại sau giám định thu của Chu Ngọc H chi tiết thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

[ 3 ] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, bị cáo Chu Ngọc H phải chịu án phí HSST là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ