- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1].Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 01/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Huyền Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mong Thái Dương
2. Ông Mong Văn Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Hải Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà:
Ông Quang Văn Dù, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 03 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Vi Văn C, tên gọi khác : Không; Sinh ngày: 13/08/2000 tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối H, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp trước khi bị bắt: Trồng trọt; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Văn Đ; con bà: Lô Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 41/QĐ-TA, ngày 19/05/2020. Chấp hành xong ngày: 19/11/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Đồng Văn Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào 13 giờ 00 phút, ngày 05/01/2024, Bị cáo Vi Văn C trên đường đi đến bản N, xã M, huyện Q tìm mua ma túy để sử dụng thì gặp một người đàn ông không quen biết đang dựng xe máy bên cạnh đường, bị cáo hỏi người đàn ông đó có “Hê rô in bán không”, người đó trả lời là có, bị cáo Vi Văn C nói “Bán cho tôi 100.000 đồng”. Người đàn ông đó đồng ý và điều khiển xe máy đi đâu đó khoảng 5 phút thì quay lại đưa cho bị cáo 01 gói Hê rô in được bọc bằng mảnh bao ni lông màu hồng, bị cáo C nhận lấy và đưa số tiền 100.000đ (Một trăm ngàn đồng) cho người đàn ông đó. Sau khi mua được ma túy bị cáo mang về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo Vi Văn C đang đi trên đường thuộc địa phận bản N, xã M thì bị tổ công tác Công an xã Châu Kim phối hợp với Công an xã Mường Nọc, huyện Quế Phong phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Vi Văn C 01 gói chất bột màu trắng được bọc bằng bao ni lông màu hồng. Đối tượng cùng tang vật được chuyển giao cho cơ quan cảnh sát điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Bản kết luận giám định số 138/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 10/01/2024 của phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn C gửi tới giám định là ma túy (Loại Hê rô in)”, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn C có khối lượng là 0,2g.
Vật chứng thu giữ là 0,2 gam Hê rô in, cơ quan Điều tra đã lấy 0,1 gam gửi đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Còn lại 0,1 gam Hê rô in hiện đang đươc Chi cục Thi hành án huyện Quế Phong quản lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKS-QP, ngày 23/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong truy tố bị cáo Vi Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vi Văn C do không xác định được lại lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Vi Văn C từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vi Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/01/2024, phù hợp với vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 05/01/2024 tại bản Ná Ca, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, bị cáo Vi Văn C đang có hành vi Tàng trữ trái phép 0,2 g ma túy (hê rô in), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi mà bị cáo đã thực hiện; khối lượng vật chứng thu giữ, được phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận là ma túy (Hê rô in) đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đúng như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện để có ma túy sử dụng. Đây là vụ án nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa C là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Vi Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng từ ngày 19/05/2020, chấp hành xong ngày 19/11/2021 nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,1 Hê rô in còn lại, bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát xử phạt bị cáo Vi Văn C từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù là hợp lý.
Về án phí: Buộc bị cáo Vi Văn C phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1].Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Vi Văn C: 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[2].Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ với 0,1 Hê rô in còn lại, bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 31/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
[3]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vi Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vi Văn C có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Quế Phong;
- Công an huyện Quế Phong;
- Chi cục THA DS huyện Quế Phong .
- UBND thị trấn K;
- Trại tạm giam; sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
- Lưu VP; HSVA.
Lương Huyền Anh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Huyền Anh
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quế Phong; - Công an huyện Quế Phong; - Chi cục THA DS huyện Quế Phong . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Huyền Anh |