vanban.org

Bản án 17/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Minh T1 phạm tội tàng tr trái phép chất ma tuý ; bị cáo Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P phạm tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy .

1. C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thành T 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội tàng tr trái phép chất ma tuý ; 07 (bảy) n m 02 (hai) tháng tù về tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy . T ng h p … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thành T và ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Minh T1 phạm tội tàng tr trái phép chất ma tuý ; bị cáo Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P phạm tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy .
  • Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật Hình sự t ng h p hình phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày: 21-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tr n V n Liêm;

2. Ông Lê V n Th ng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 n m 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 01 n m 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 n m 2024, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Thành T, sinh n m 1994, tại Bình Dương; nơi đ ng ký thư ng trú: Ấp C, x M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng V n L, sinh n m 1966 và bà Trương Thị Thuý V, sinh n m 1967; bị cáo chưa c v con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm gi , tạm giam t ngày 18/7/2022 cho đến nay. C mặt.

2. Nguyễn Ngọc P, sinh n m 1990, tại Bình Dương; nơi đ ng ký thư ng trú: Ấp C1, x M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc S, sinh n m 1962 và bà L Ngọc H, sinh n m 1963; bị cáo chưa c v con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 02/8/2021, bị cáo bị U ban nhân dân x Minh Thạnh, huyện D u Tiếng áp dụng biện pháp giáo dục tại x th i gian là 03 tháng theo quyết định số 266/QĐ-UBND. Bị cáo bị tạm gi , tạm giam t ngày 18/7/2022 cho đến nay. C mặt.

3. Nguyễn Minh T1, sinh n m 1999, tại Bình Dương; nơi đ ng ký thư ng trú: Ấp H, x M1, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n T3, sinh n m 1976 và bà Hu nh Mai H2, sinh n m 1980; bị cáo chưa c v con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm gi , tạm giam t ngày 18/7/2022 cho đến nay. C mặt.

N i c qu n l i n h a v liên quan n v án:

Ông Hoàng V n L, sinh n m 1966. Nơi đ ng ký thư ng cư trú: Ấp C, x M, huyện D, tỉnh Bình Dương. C mặt

Bà Nguyễn Thị Mộng N, sinh n m 1999. Nơi đ ng ký thư ng cư trú: Ấp X, x B, huyện D, tỉnh Bình Dương. Xin v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m t t như sau:

Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Minh T1 là đối tư ng nghiện ma túy. Trước khi bị b t, T, P và T1 thuê lô cao su để khai thác tại x Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình cạo mủ, T, P và T1 thư ng g p tiền để mua ma túy về sử dụng chung.

Khoảng 11 gi 00 phút, ngày 18/7/2022, T và P g p tiền mỗi ngư i 850.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Lúc này T liên hệ với Lê V n Z, sinh n m 1975, cư trú tại ấp Cây Liễu, x M, huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương thông qua số điện thoại 0329658624 để mua ma túy thì Z đồng ý và hẹn gặp T ở khu vực ấp C, x M để giao ma túy.

Sau khi mua ma túy xong , T đem ma túy về lô cao su mà T đang thuê cạo để cùng P sử dụng. Tuy nhiên, do sử dụng ma túy này bị đau đ u nên T và P ng ng sử dụng, T cất số ma túy còn lại vào trong túi qu n bên phải. Một lúc sau, Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng Thùy đi sang gặp T và P để thanh toán tiền mua da cây cao su. Tại đây, T1 và Thùy thấy bộ dụng cụ ma túy c sẵn ma túy bên trong nên lấy sử dụng, lúc này T và P thấy nhưng không ng n cản.

Khoảng 15 gi 00 phút cùng ngày, P tiếp tục rủ T và T1 g p tiền để mua ma túy sử dụng, cụ thể T1 hùn 250.000 đồng, T 400.000 đồng, P 350.000 đồng. Lúc này T đi đến khu vực x M1, huyện C1, tỉnh Bình Phước để gặp đối tư ng tên Công (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy với giá 1.000.000 đồng , sau khi nhận ma túy, T trả cho Công 800.000 tiền mặt, đồng th i chuyển khoản số tiền 200.000 đồng qua số tài khoản ngân hàng ACB số 16990147 của U. Sau khi mua ma túy xong, T đem ma túy về lô cao su. Khi đến khu vực x M thì T nhận đư c điện thoại của đối tư ng M (không rõ nhân thân, lai lịch) nh mua ma túy với giá 500.000 đồng thì T liên hệ với Lê V n Z để mua ma túy dùm M. Sau khi mua ma túy xong, T đi về hướng x M1 để đưa ma túy cho đối tư ng M thì bị Công an b t quả tang và tạm gi các tang vật gồm 01 túi nylon miệng kéo dính (M1) và 01 đoạn ông hút nhựa màu vàng hàn kín 2 đ u (M3) (bên trong c chứa tinh thể màu tr ng hồng); 01 g i nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu tr ng (M2); 01 xe mô tô nh n hiệu Yamaha, số loại Sirius RC, biển số 61V2-2114, màu tr ng đen, số khung: RLCS5C640AY309695, số máy 5C64-309696, dung tích xi lanh: 110, loại xe: 02 bánh.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D u Tiếng đ tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Minh T1, phát hiện và thu gi tại nhà của Nguyễn Ngọc P các vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy đ qua sử dụng; 02 kéo bằng kim loại đ qua sử dụng; 02 máy bật lửa đ qua sử dụng; 01 túi nylon trong suốt miệng kéo dính rỗng; 01 n p chai nhựa màu đỏ trên n p chai c 02 lỗ hình tròn.

Tại Kết luận giám định số 353/KL-KTHS (MT) ngày 27/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận

+ Tinh thể, màu tr ng trong 01 túi nylon miệng kéo là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 1,9950 gam (M1).

+ Tinh thể màu tr ng trong 01 túi nylon hàn kín là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 0,6621 gam (M2).

+ Tinh thể màu tr ng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đ u là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 0,3239 gam (M3).

Quá trình điều tra xác định:

Tinh thể, màu tr ng trong 01 túi nylon miệng kéo là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 1,9950 gam (M1) là số ma túy do Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P g p tiền mua về và cùng sử dụng với Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng N nhưng chưa sử dụng hết.

Tinh thể màu tr ng trong 01 túi nylon hàn kín là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 0,6621 gam (M2) là số ma túy do Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Minh T1 g p tiền mua về nhằm mục đích sử dụng.

Tinh thể màu tr ng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đ u là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 0,3239 gam (M3) là số ma túy do Hoàng Thành T mua dùm cho đối tư ng M (không rõ nhân thân, lai lịch) không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển,

Qua làm việc, Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P khai nhận mua ma túy của đối tư ng U. Quá trình thu thập d liệu điện tử thể hiện Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P c điện thoại và chuyển khoản cho Tr n V n U, sinh n m 1989, cư trú tại ấp F, x M, huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương nhưng không xác định đư c nội dung cuộc gọi và chuyển khoản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D u Tiếng tiến hành làm việc với Tr n V n U, qua là việc U không th a nhận c hành vi bán ma túy cho Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P. Do đ ngoài l i khai của Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P, không còn tài liệu, chứng cứ nào để xác định Tr n V n U c hành vi bán ma túy cho T và P, do đ không đủ c n cứ xử lý Tr n V n U.

Đối với hành vi của Lê V n Z bán ma túy cho Hoàng Thành T. Ngày 06/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đ ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự số 45/QĐ-CSMT, khởi tố bị can số 181/QĐ-CSMT đối với Lê V n Z về hành vi mua bán trái phép chất ma túy để xử lý theo quy định.

Đối với hành vi của đối tư ng tên Min nh Hoàng Thành T mua dùm ma túy. Quá trình điều tra, không xác định đư c nhân thân, lai lịch của đối tư ng tên Min. Khi c đủ c n cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Thị Mộng Thùy. Ngày 25/7/2022, Công an x M đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Thị Mộng Thùy về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSDT ngày 11 tháng 01 n m 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện D u Tiếng đ truy tố bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Minh T1 về tội Tàng tr trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P về tội t chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D u Tiếng vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thành T 02 n m 06 tháng đến 03 n m tù về tội tàng tr trái phép chất ma tuý và 7 n m đến 08 n m rù về tội t chức sử dụng trái phép chất ma tuý;

C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 n m 02 tháng đến 02 n m 06 tháng tù về tội tàng tr trái phép chất ma tuý và 7 n m đến 08 n m rù về tội t chức sử dụng trái phép chất ma tuý;

C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 20 tháng 02 ngày tù bằng th i hạn tạm giam của bị cáo t ngày 18/7/2022 đến ngày 21/3/2024;

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thư đư c niêm phong ghi số: 353/PC09, c ch ký của cán bộ niêm phong Hồ Minh Nhựt, Nguyễn Nhứt Ải – Điều tra viên, ngư i chứng kiến Hoàng Thành T, T tá Đặng Tiến Nam – trưởng Công an x và hình dấu đỏ của Công an x M, c giấy niêm phong c ch ký của ngư i chứng kiến Hoàng Thành T, Cán bộ giao mẫu Nguyễn Hoàng Nam, cán bộ nhận mẫu Lê Hu nh Đức và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa mẫu vật sau khi giám định: M1: 1,8384 gam; M2= 0,5634 gam; M3=0,2502 gam. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án. Vì vậy đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nh n hiệu OPPO, loại Reno7 Z 5G, số IMEI1: 863557051978372, số IMEI2: 863557051978364, bên trong c 01 sim điện thoại ghi ch Viettel 4G và d y số 8984048000033202405; 01 sim điện thoại c ghi ch Viettel 4G và d y số 8984048000034015242. Xét thấy, Hoàng Thành T sử dụng điện thoại trên để liên lạc mua ma túy. Do đ đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy đ qua sử dụng; 02 kéo bằng kim loại đ qua sử dụng; 02 máy bật lửa đ qua sử dụng; 01 túi nylon trong suốt miệng kéo dính rỗng; 01 n p chai nhựa màu đỏ trên n p chai c 02 lỗ hình tròn. Xét thấy các vật này không c giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nh n hiệu Yamaha, số loại Sirius RC, biển số 61V2-2114, màu tr ng đen, số khung: RLCS5C640AY309695, số máy 5C64-309696, dung tích xi lanh: 110, loại xe: 02 bánh. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản h p pháp của Hoàng V n L. T khoảng tháng 4/2022, ông Lân đưa xe mô tô trên cho Hoàng Thành T để làm phương tiện đi lại, việc T điều khiển xe mô tô mua ma túy, ông Lân không biết. Do đ , đề nghị trả lại xe mô tô trên cho ông Hoàng V n L.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P th a nhận hành vi tàng tr trái phép chất ma tuý như cáo trạng đ nêu. Tuy nhiên, hai bị cáo phủ nhận việc c gặp Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thị Mộng N ngày 18/7/2022 và việc c cho bị cáo T1 và N sử dụng ma tuý của hai bị cáo, không th a nhận hành vi t chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hai bị cáo cho rằng trước đây trong quá trình điều tra hai bị cáo đ bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D u Tiếng sử dụng nhục hình ép hai bị cáo khai về việc c gặp và c cho bị cáo T1 và N sử dụng ma tuý của hai bị cáo nhưng không c chứng cứ chứng minh. Hai bị cáo chỉ cho rằng việc khai như vậy không ảnh hưởng đến tội danh của hai bị cáo nên mới đồng ý khai về sự việc trên. Hai bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra.

Bị cáo Nguyễn Minh T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đ nêu. Bị cáo xác định ngày 18/7/2022, bị cáo c cùng với Nguyễn Thị Mộng N (là bạn gái của T1) ghé vào chòi của bị cáo T và P để trao đ i về tiền thuê da cây (T1 c mua lại da cây cao su của T và P), tại đây, bị cáo T1 và N đ thấy bộ dụng cụ c ma tuý đá ở trong. Bị cáo T1 xác định ma tuý là của T và P vì lúc đ T1 c nghiện ma tuý, đồng th i, gi a bị cáo T1 với T, P đ nhiều l n hùn tiền mua ma tuý chung với nhau. Bị cáo T1 đ hỏi xin bị cáo T và P để sử dụng ma tuý, T và P không n i gì tỏ ý đ đồng ý nên T1 và N đ sử dụng ma tuý. Sau khi sử dụng xong thì T1 và N đ về chòi của T1 ở g n đ . Bị cáo T1 c ng th a nhận việc g p tiền 250.000 đồng dưa cho bị cáo T để mua ma tuý về sử dụng chung chiều ngày 18/7/2022 khi đư c bị cáo P rủ rê. Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra.

L i n i sau cùng:

Bị cáo T: Bị cáo trình bày là đúng sự thật, bị cáo bị oan về hành vi t chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo P: Bị cáo trình bày là đúng sự thật, bị cáo bị oan về hành vi t chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Yêu c u Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo theo đúng quy định pháp luật.

Bị cáo T1: Bị cáo đ biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D u Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D u Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không c ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P cho rằng hai bị cáo đ bị cán bộ điều tra và điều tra viên dùng nhục hình, ép cung, buộc hai bị cáo phải khai về hành vi cho bị cáo Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng N sử dụng ma tuý nhưng không xác định đư c là cá nhân nào cụ thể, không c chứng cứ chứng minh nên không c cơ sở xem xét. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

L i khai của các bị cáo Nguyễn Minh T1 tại phiên tòa phù h p với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các l i khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội và các chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P th a nhận hành vi tàng tr trái phép chất ma tuý, nhưng không th a nhận hành vi cho bị cáo Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng N sử dụng ma tuý của các bị cáo. Tuy nhiên, c n cứ vào l i khai của các bị cáo T và P trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm l n đ u các bị cáo đều th a nhận hành vi trên. L i khai của bị cáo T1 và N và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đều kh ng định hành vi của các bị cáo dù không chủ động rủ rên bị cáo T1 và N sử dụng ma tuý nhưng đ không ng n cản và ng m đồng ý khi bị cáo T1 và N c yêu c u sử dụng ma tuý của các bị cáo. T nh ng chứng cứ nêu trên c c n cứ kết luận: Vào lúc 17 gi 00 phút ngày 18/7/2022, tại ấp Cây Liễu, x M, huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương, Hoàng Thành T c hành vi tàng tr 2,981 gam ma túy loại Methamphetamine (trong đ ph n hùn của Nguyễn Ngọc P là 2,6571 gam, ph n hùn của Nguyễn Minh T1 là 0,6621 gam). Ngoài ra, vào lúc 12 gi 00 phút, ngày 18/7/2022, Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P c hành vi cung cấp ma túy cho Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng Thùy sử dụng tại c n lều dựng tạm trong lô cao su thuộc ấp An Lộc, x Định An, huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Các bị cáo là ngư i c đ y đủ n ng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi tàng tr chất ma tuý, t chức sử dụng ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, không nh ng xâm phạm đến quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Hoàng Thành T c hành vi tàng tr 2,981 gam ma túy loại Methamphetamine (trong đ ph n hùn của Nguyễn Ngọc P là 2,6571 gam, ph n hùn của Nguyễn Minh T1 là 0,6621 gam). Tại Kết luận giám định số 353/KL-KTHS (MT) ngày 27/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

+ Tinh thể, màu tr ng trong 01 túi nylon miệng kéo là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 1,9950 gam (M1).

+ Tinh thể màu tr ng trong 01 túi nylon hàn kín là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 0,6621 gam (M2).

+ Tinh thể màu tr ng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đ u là ma túy loại Methamphetamine c khối lư ng/ trọng lư ng 0,3239 gam (M3).

Hành vi của các bị cáo đ phạm vào tội tàng tr trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt đư c quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, vào lúc 12 gi 00 phút, ngày 18/7/2022, Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P c hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma tuý cho Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng N sử dụng tại c n lều dựng tạm trong lô cao su thuộc ấp A, x Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương đ phạm vào tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt đư c quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng số 07/CT-VKSDT ngày 11/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D u Tiếng đ truy tố bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Minh T1 về tội Tàng tr trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P về tội t chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là c c n cứ, đúng pháp luật.

Vụ án c tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không c sự phân công nhau rõ ràng, việc thực hiện hành vi xuất phát t nhu c u sử dụng ma tuý của các bị cáo. Hội đồng xét xử phân tích vai trò của t ng bị cáo như sau:

Bị cáo Hoàng Thành T tham gia hùn mua ma tuý hai l n với số tiền lớn nhất và là ngư i trực tiếp đi mua ma tuý nhằm mục đích tàng tr , sử dụng ma tuý. Cùng với bị cáo P đồng ý để cho bị cáo Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng N sử dụng ma tuý của bị cáo và P.

Bị cáo Nguyễn Ngọc P tham gia hùn mua ma tuý hai l n, rủ rê bị cáo Nguyễn Minh T1 hùn mua ma tuý để sử dụng chung. Chuẩn bị công cụ để sử dụng ma tuý. Đồng ý để cho bị cáo Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Thị Mộng N sử dụng ma tuý của bị cáo và T.

Bị cáo Nguyễn Minh T1 khi đư c bị cáo P rủ rê đ đồng ý hùn tiền mua ma tuý một l n là 250.000 đồng với bị cáo T và P để mua ma tuý về sử dụng chung nên c vai trò đồng phạm với bị cáo T và P liên quan đến hành vi tàng tr trái phép chất ma tuý .

Tại phiên toà, bị cáo T1 c thái độ thành khẩn khai báo, n n n hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nh c giảm một ph n hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy đư c sự khoan hồng của pháp luật. Riêng bị cáo T và P không thành khẩn khai báo liên quan đến hành vi t chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên không đư c xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, n n n hối cải. Bị cáo Hoàng Thành T đ hoàn thành ngh a vụ quân sự (c giấy chứng nhận), gia đình bị cáo c hoàn cảnh kh kh n (c xác nhận của chính quyền địa phương) nên đư c xem xét là tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nh c khi xem xét hình phạt đối với bị cáo T.

Các bị cáo không c tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét đ y đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng, để đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý tại địa phương nên c n thiết phải xử phạt hình phạt tù với mức án nghiêm đủ sức r n đe đối với bị cáo, đồng th i, phòng ng a chung cho x hội. Bị cáo Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P phạm hai tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự t ng h p hình phạt của hai tội đối với hai bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Minh T1 trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đ thành khẩn khai báo, n n n hối cải, th i gian tạm giam đ đủ sức r n đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét mức án bằng với th i gian tạm giam đối với bị cáo T1.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bì thư đư c niêm phong ghi số: 353/PC09, c ch ký của cán bộ niêm phong Hồ Minh Nhựt, Nguyễn Nhứt Ải – Điều tra viên, ngư i chứng kiến Hoàng Thành T, T tá Đặng Tiến Nam – trưởng Công an x và hình dấu đỏ của Công an x M, c giấy niêm phong c ch ký của ngư i chứng kiến Hoàng Thành T, Cán bộ giao mẫu Nguyễn Hoàng Nam, cán bộ nhận mẫu Lê Hu nh Đức và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa mẫu vật sau khi giám định: M1: 1,8384 gam; M2= 0,5634 gam; M3=0,2502 gam. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án. Vì vậy c n tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nh n hiệu OPPO, loại Reno7 Z 5G, số IMEI1: 863557051978372, số IMEI2: 863557051978364, bên trong c 01 sim điện thoại ghi ch Viettel 4G và d y số 8984048000033202405; 01 sim điện thoại c ghi ch Viettel 4G và d y số 8984048000034015242. Xét thấy, Hoàng Thành T sử dụng điện thoại trên để liên lạc mua ma túy c n tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy đ qua sử dụng; 02 kéo bằng kim loại đ qua sử dụng; 02 máy bật lửa đ qua sử dụng; 01 túi nylon trong suốt miệng kéo dính rỗng; 01 n p chai nhựa màu đỏ trên n p chai c 02 lỗ hình tròn. Xét thấy các vật này không c giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nh n hiệu Yamaha, số loại Sirius RC, biển số 61V2-2114, màu tr ng đen, số khung: RLCS5C640AY309695, số máy 5C64-309696, dung tích xi lanh: 110, loại xe: 02 bánh. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản h p pháp của Hoàng V n L. T khoảng tháng 4/2022, ông Lân đưa xe mô tô trên cho Hoàng Thành T để làm phương tiện đi lại, việc T điều khiển xe mô tô mua ma túy, ông Lân không biết. Do đ , c n trả lại xe mô tô trên cho ông Hoàng V n L.

Đối với đối tư ng tên Tr n V n U: Quá trình điều tra, Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P khai nhận mua ma túy của đối tư ng Công. Quá trình thu thập d liệu điện tử thể hiện Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P c điện thoại và chuyển khoản cho Tr n V n U, sinh n m 1989, cư trú tại ấp F, x M, huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương nhưng không xác định đư c nội dung cuộc gọi và chuyển khoản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D u Tiếng tiến hành làm việc với Tr n V n U thì Công không th a nhận c hành vi bán ma túy cho Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P. Do đ ngoài l i khai của Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P, không còn tài liệu, chứng cứ nào để xác định Tr n V n U c hành vi bán ma túy cho T và P, do đ không đủ c n cứ xử lý Tr n V n U là phù h p.

Đối với hành vi của Lê V n Z bán ma túy cho Hoàng Thành T. Ngày 06/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đ ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự số 45/QĐ-CSMT, khởi tố bị can số 181/QĐ-CSMT đối với Lê V n Z về hành vi mua bán trái phép chất ma túy để xử lý theo quy định.

Đối với hành vi của đối tư ng tên M nh Hoàng Thành T mua dùm ma túy. Quá trình điều tra, không xác định đư c nhân thân, lai lịch của đối tư ng tên M. Khi c đủ c n cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định là phù h p.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Thị Mộng Thùy. Ngày 25/7/2022, Công an x M đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Thị Mộng Thùy về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù h p.

Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về ph n tội danh, điều khoản áp dụng và mức hình phạt là c c n cứ phù h p với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Minh T1 phạm tội tàng tr trái phép chất ma tuý ; bị cáo Hoàng Thành T và Nguyễn Ngọc P phạm tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy .

1.1. C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thành T 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội tàng tr trái phép chất ma tuý ; 07 (bảy) n m 02 (hai) tháng tù về tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy . T ng h p hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) n m 08 (tám) tháng tù. Th i gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 18/7/2022.

1.2. C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 55, 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 (hai) n m 02 (hai) tháng tù về tội tàng tr trái phép chất ma tuý ; 07 (bảy) n m 02 (hai) tháng tù về tội t chức sử dụng trái phép chất ma túy . T ng h p hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) n m 04 (bốn) tháng tù. Th i gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 18/7/2022.

1.3. C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 01 (một) n m 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội tàng tr trái phép chất ma tuý bằng với th i gian tạm giam trước đ của bị cáo t ngày 18/7/2022 đến ngày 21/3/2024.

C n cứ vào khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Minh T1 tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm gi , tạm giam về hành vi phạm tội khác.

2. Về xử lý vật chứng: C n cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hu :

- 01 (một) bì thư đư c niêm phong ghi số: 353/PC09, c ch ký của cán bộ niêm phong Hồ Minh Nhựt, Nguyễn Nhứt Ải – Điều tra viên, ngư i chứng kiến Hoàng Thành T, T tá Đặng Tiến Nam – trưởng Công an x và hình dấu đỏ của Công an x M, c giấy niêm phong c ch ký của ngư i chứng kiến Hoàng Thành T, Cán bộ giao mẫu Nguyễn Hoàng Nam, cán bộ nhận mẫu Lê Hu nh Đức và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa mẫu vật sau khi giám định: M1: 1,8384 gam; M2= 0,5634 gam; M3=0,2502 gam.

- 01 (một) bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy đ qua sử dụng;

- 02 (hai) kéo bằng kim loại đ qua sử dụng;

- 02 (hai) máy bật lửa đ qua sử dụng;

- 01 (một) túi nylon trong suốt miệng kéo dính rỗng;

- 01 (một) n p chai nhựa màu đỏ trên n p chai c 02 lỗ hình tròn.

2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại nh n hiệu OPPO, loại Reno7 Z 5G, số IMEI1: 863557051978372, số IMEI2: 863557051978364, bên trong c 01 sim điện thoại ghi ch Viettel 4G và d y số 8984048000033202405; 01 sim điện thoại c ghi ch Viettel 4G và d y số 8984048000034015242.

2.3. Trả lại cho ông Hoàng V n L: 01 (một) xe mô tô nh n hiệu Yamaha, số loại Sirius RC, biển số 61V2-2114, màu tr ng đen, số khung: RLCS5C640AY309695, số máy 5C64-309696, dung tích xi lanh: 110, loại xe: 02 bánh (tình trạng vật chứng tại th i điểm giao nhận: xe đ c , đ qua sử dụng, không c gương chiếu hậu, không c yếm ch n gi ).

(Th hi n tại iên n iao nh n v t ch n n à 12/5/2023 của Chi c c Thi hành án dân s hu n D u Ti n t nh ình D n

3. Về án phí: C n cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội kh a 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Thành T, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Minh T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai tr m ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: C n cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo, ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án c mặt đư c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án (21/03/2024).

Ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án v ng mặt đư c quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết theo định pháp luật.

Cỡ chữ