- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/6/2024 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Lê Thị Kiểm.
+ Bà Vũ Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa:
Nguyªn ®¬n: Chị Vũ Thị L, sinh n¨m 1998.
§Þa chØ: Thôn Đ, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
BÞ ®¬n: Anh Vũ Quốc T, sinh n¨m 1996.
§ịa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam số 5 - Cục C10 - Bộ Công an. (Đóng tại thôn Yên Tâm, xã Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa). Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn và quá trình xét xử, chị Vũ Thị L là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Vũ Quốc T kết hôn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký ngày 01/3/2017 tại UBND xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được hơn một năm đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T mải chơi, không tu trí làm ăn, mắc nghiện ma túy, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh T không từ bỏ được ma túy dẫn đến vợ chồng thường xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tháng 9/2022 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam sống, không về chung sống cùng anh T nữa. trong thời gian chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống anh T đã vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’. Hiện nay anh T đang chấp hành án hình phạt tù tại Trại giam số 5 - Cục C10 - Bộ Công an. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thắng.
Tại bản tự khai của đương sự ngày 16/4/2024, anh Vũ Quốc T là bị đơn trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng đúng như chị L trình bày. Nay chị L làm đơn xin ly hôn anh, anh hoàn toàn nhất trí vì xác định tình cảm vợ chồng không còn. Do anh đang phải chấp hành án hình phạt tù tại Trại giam số 5 - Cục C10 - Bộ Công an, anh đề nghị Tòa án cho anh vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Mai Phương N, sinh ngày 29/01/2018. Hiện nay cháu đang ở với chị L. Khi ly hôn nguyện vọng của chị L và anh T giao cháu Nhi cho chị L nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị L.
Về con riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, riêng, công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy, không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị L. Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T. Về con chung: Giao cháu Vũ Mai Phương N, sinh ngày 29/01/2018 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao đông tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị L. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Vũ Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Vũ Quốc T là bị đơn; địa chỉ: §ịa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam số 5 - Cục C10 - Bộ Công an. (Đóng tại thôn Yên Tâm, xã Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Vũ Quốc T có ý kiến nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, không ai đề nghị hoãn phiên tòa nên đây là trường hợp bị đơn vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T kết hôn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký ngày 01/03/2017 tại UBND xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn cãi, chửi nhau. Nguyễn nhân là do anh T mải chơi, không tu chí làm ăn, mắc nghiện ma túy, chị L đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T không từ bỏ được ma túy nên tháng 9/2022 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam sống, không về chung sống cùng anh T nữa. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam số 5 - Cục C10 - Bộ Công an. Vợ chồng không còn tình cảm và không quan tâm đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng chị L, anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L xin ly hôn, anh T nhất trí, cả hai xác định tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn giữa chị L, anh T là tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T có 01 con chung là cháu Vũ Mai Phương N, sinh ngày 29/01/2018. Qua tài liệu xác minh và lời thừa nhận của các đương sự thì cháu N đang ở với chị L, được nuôi dưỡng tốt về mọi mặt, nguyện vọng của chị L và anh T khi ly hôn giao cả cháu N cho chị L nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành, lao động tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng cho con cùng chị L. Xét thấy sự thoả thuận của các được sự là tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Về án phí: Chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 50% án phí ly hôn. Tại phiên tòa, chị L xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm (Chị L xin chịu thay cả phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh T). Xét thấy, sự tự nguyện của đương sự là phù hợp pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 55; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị L và anh Vũ Quốc T.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Mai Phương N, sinh ngày 29/01/2018 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của chị Lam.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Vũ Thị L chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Chị xin chịu thay cho cả phần án phí ly hôn của anh T), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0000115 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chị L đã nộp đủ.
4. Quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¥ TH¢M Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |