vanban.org

Bản án 17/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Kim C và anh Nguyễn Trần Minh H . Về con chung: Xử giao 02 con chung tên Nguyễn Trương Định An, sinh ngày 24/01/2011 và cháu Nguyễn Trường Thịnh, sinh ngày 18/01/2012 cho chị Trương Thị Kim C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị Kim C-Nguyễn Trần Minh H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2024
V/v: “ Tranh chấp xin ly hôn
và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Toán

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Hoàng

2. Bà Chung Kim Sang

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc “ Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2023/QĐXX ST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trương Thị Kim C, sinh năm 1974 (Có mặt);

Địa chỉ: ấp Vĩnh Thành A, xã Vĩnh Hòa H , huyện CT, tỉnh KG.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Trần Minh H, sinh năm 1979 (Vắng mặt lần 2 không lý do);

Địa chỉ: số 90/17, đường Trương Vĩnh Ký, khu phố 2, phường Rạch Sỏi, thành phố RG, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05-7-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Kim C trình bày: Chị Cvà anh Nguyễn Trần Minh H tự quen nhau, chung sống không có tổ chức lễ cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá ngày 15/9/2010.

Lý do xin ly hôn: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 7 năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, anh H không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình, chị có mâu thuẩn với gia đình anh H nên thường xuyên xảy ra cự cãi bất hòa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay.

Anh chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được. Thấy rằng đời sống chung không thể hòa hợp nên chị Clàm đơn yêu cầu ly hôn với anh H .

- Về con chung: Chị C xác định có 02 người con chung tên Nguyễn Trương Định An, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Trường Thịnh, sinh ngày 18/01/2012. Chị Cyêu cầu nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Cxác định không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

- Về nợ chung: Chị Cxác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Ccam kết ly hôn không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ đối với người khác.

Tại phiên tòa, Chị Trương Thị Kim Cvẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình.

* Bị đơn anh Nguyễn Trần Minh H đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh Nguyễn Trần Minh H đều không có mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Trương Thị Kim Chi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trương Thị Kim C khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trần Minh H hiện nay đang sinh sống tại địa chỉ: số 90/17, đường Trương Vĩnh Ký, khu phố 2, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Anh Nguyễn Trần Minh H không có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trương Thị Kim Chi, đồng thời vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trần Minh H là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Kim C và anh Nguyễn Trần Minh H thành lập gia đình với nhau vào năm 2010 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị C nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn và hay bất đồng ý kiến với nhau do không cùng chung quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, sống không có hạnh phúc và hai bên đã sống ly thân với nhau từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay.

Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Trương Thị Kim C và anh Nguyễn Trần Minh H đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Kim Chi, xử cho chị Trương Thị Kim C được ly hôn với anh Nguyễn Trần Minh H là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Trương Thị Kim C xác nhận trong thời gian chung sống anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Trương Định An, sinh ngày 24/01/2011 và Nguyễn Trường Thịnh, sinh ngày 18/01/2012. Chị C yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, Trong thời gian chị C và anh H sống ly thân với nhau cho đến nay cháu Nguyễn Trương Định A, sinh ngày 24/01/2011 và cháu Nguyễn Trường Th, sinh ngày 18/01/2012 do chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc khác, cháu A và cháu Thịnh có nguyện vọng sống với chị C. Vì vậy, để đảm bảo về mặt tâm lý và cuộc sống ổn định hiện tại của cháu Nguyễn Trương Định A và cháu Nguyễn Trường Th, Hội đồng xét xử thấy nên xử giao cháu: Nguyễn Trương Định A và cháu Nguyễn Trường Th cho chị C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết nếu sau này các bên có tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung có thể khởi kiện thành vụ án khác nếu có yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị Trương Thị Kim C xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Trương Thị Kim C xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Trương Thị Kim C là nguyên đơn do đó phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 , Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Kim C và anh Nguyễn Trần Minh H .

2. Về con chung: Xử giao 02 con chung tên Nguyễn Trương Định An, sinh ngày 24/01/2011 và cháu Nguyễn Trường Thịnh, sinh ngày 18/01/2012 cho chị Trương Thị Kim C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng của cháu An và cháu Thịnh). Chị C không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Trần Minh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Kim C xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trương Thị Kim C phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng chị C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0002465 ngày 19 tháng 7 năm 2023 của C cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên không phải nộp thêm.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

Báo quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Kim C có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trần Minh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết. * Nơi nhận:

Cỡ chữ