- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc T - Phan Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu được ly hôn với ông Phan
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2024/HNGĐ - ST. Ngày: 12 – 3 – 2024. V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Rực.
2. Bà Trần Thúy Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 212/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1982; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Nguyên vào năm 2013, bà và ông Phan Văn T1 tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục và chung sống với nhau, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, đăng ký vào ngày 15/11/2013. Sau khi kết hôn bà và ông T1 chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc và đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian chung sống bà và ông T1 không có con chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Về hôn nhân xin được ly hôn với ông Phan Văn T1; về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Phan Văn T1: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T1, nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử ; nguyên đơn trong quá trinh giải quyết vu ̣ án kể từ khi thu ̣ lý vu ̣ án đến
̀
trướ c thờ i điểm Hô ̣i đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy đi ̣nh của pháp luật về tố tu ̣ng dân sự riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, giải quyết vụ án theo hướng: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc T; về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, bà không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Văn T1 từ khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T1 nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 hai lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T1.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định bà và ông Phan Văn T1 chung sống với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, đăng ký ngày 15/11/2013. Hôn nhân của bà T và ông T1 tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp. Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông T1 với lý do trong quá trình chung sống, đến năm 2023 thì hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn gay gắt, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và ông, bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi bà T chính thức xin ly hôn đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đối với bị đơn ông Phan Văn T1, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T1 biết nhưng ông không có ý kiến phản đối gì và cũng không trình bày ý kiến gì cho Tòa án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1.
. Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định trong thời gian chung sống bà và ông T1 không có con chung, bà không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định bà và ông Phan Văn T1 không có sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định bà và ông Phan Văn T1 không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Phan Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Phan Văn T1.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000565 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phan Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Long Phú; PHIÊN TÒA - Các đương sự; - UBND xã Tân Hưng; - Chi cục T.H.A DS huyện Long Phú; - Lưu (HS, VP). TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 17/2024/HNGĐ - ST. Ngày: 12 – 3 – 2024. V/v Ly hôn. - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Rực. 2. Bà Trần Thúy Kiều. Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên. Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 212/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự: Qui A, xã Tân Hưng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt). Qui A, xã Tân Hưng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: Ấp Phú Hữu, xã Phú Hữu, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt). quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thu trình bày: theo phong tục và chung sống với nhau, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, đăng ký vào ngày 15/11/2013. Sau khi kết hôn bà và ông Thương chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc và đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian chung sống bà và ông Thương không có con chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung. thể: Về hôn nhân xin được ly hôn với ông Phan Văn Thương; về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Thương, nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Thương 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Thương để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. phiên tòa phát biểu quan điểm: hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử ; nguyên đơn trong quá trinh giải quyết vu ̣ án kể từ khi thu ̣ lý vu ̣ án đến ̀ trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghi ̣ án đã chấp hành đúng các quy đi ̣nh của pháp luật về tố tu ̣ng dân sự riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, giải quyết vụ án theo hướng: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc Thu; về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, bà không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Thương nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Thương hai lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Văn Thương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Thương. Văn Thương chung sống với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, đăng ký ngày 15/11/2013. Hôn nhân của bà Thu và ông Thương tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Thu và ông Thương là hợp pháp. Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Thu vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Thương với lý do trong quá trình chung sống, đến năm 2023 thì hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn gay gắt, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và ông, bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi bà Thu chính thức xin ly hôn đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đối với bị đơn ông Phan Văn Thương, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Thương biết nhưng ông không có ý kiến phản đối gì và cũng không trình bày ý kiến gì cho Tòa án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Thu và ông Thương đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Thu được ly hôn với ông Thương. xác định trong thời gian chung sống bà và ông Thương không có con chung, bà không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Thu xác định bà và ông Phan Văn Thương không có sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. xác định bà và ông Phan Văn Thương không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Phan Văn Thương không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Long Phú là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử: Văn Thương. 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000565 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Thu đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phan Văn Thương không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật. dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Kim Phước Thạch Thanh Tâm Lê Hoàng Bảo | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Lê Hoàng Bảo CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp Tân 2. Bị đơn: Ông Phan Văn Thương, sinh năm 1982; đăng ký thường trú: Ấp Tân NỘI DUNG VỤ ÁN: - Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải Nguyên vào năm 2013, bà và ông Phan Văn Thương tự nguyện tổ chức lễ cưới Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Ngọc Thu vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ - Đối với bị đơn ông Phan Văn Thương: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến - Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; việc xác định quan Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem [1]. Thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Văn Thương từ khi Tòa án thụ lý vụ án [2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu xác định bà và ông Phan [3]. Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc Thu [4]. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc [5]. Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc Thu [6]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu phải chịu án phí theo qui định tại [7]. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu được ly hôn với ông Phan 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu phải chịu 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |