vanban.org

Bản án 17/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm Th. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Cẩm Th được ly hôn với anh Nguyễn Trung T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cẩm Th - Nguyễn Trung T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/9/2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Y Mưng Niê;

2.Ông Vũ Công Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Bạch Mai Anh Th – Kiểm sát viên.

Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TL T-HNGĐ ngày 27/5/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXX T-HNGĐ ngày 06/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2024/QĐ T-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm Th, sinh năm 2002. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Phước Trạch 2, xã Ea Phê, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1999. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 6, xã Cư Né, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo đơn kh i kiện, quá tr nh gi i quy t v án, nguyên đơn ch Nguyễn Th Cẩm Th trình bày: Tôi và anh Nguyễn Trung T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K vào ngày 18/7/2022. Và chung sống dần dần phát sinh mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể hòa hợp thêm được nữa, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T. Về con chung: trong quá trình chung sống chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhã Ph ( inh ngày 19/12/2022). Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành, 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập bị đơn anh Nguyễn Trung T nhưng anh T vắng mặt không có lý do; vì vậy không thể ghi nhận ý kiến trình bày của anh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Đối với bị đơn anh Nguyễn Trung T vắng mặt tại phiên toà không có lý do nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án, chị Nguyễn Thị Cẩm Th và anh Nguyễn Trung T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Th ly hôn với anh T. Về con chung: Đề nghị HĐXX chấp nhận giao con chung Nguyễn Nhã Ph (Sinh ngày 19/12/2022) cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Th không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Về tài sản và công nợ chung, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, anh Nguyễn Trung T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh T tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện K vào ngày 18/7/2022. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì dần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, quan điểm sống; cả hai đã sống ly thân với nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh T đã đến mức trầm trọng, không thể hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th, cho chị Th được ly hôn với anh T để tạo điều kiện cho cả hai có một cuộc sống riêng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Th và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Nhã Ph ( inh ngày 19/12/2022). Hiện cháu đang ở với chị Th. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cháu Ph còn nhỏ, chưa đủ 3 tuổi, để tránh những thay đổi trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt của cháu Ph, cần giao cháu Ph cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Th không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm Th.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Cẩm Th được ly hôn với anh Nguyễn Trung T.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhã Ph (Sinh ngày 19/12/2022) cho chị Nguyễn Thị Cẩm Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm Th không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Anh Nguyễn Trung T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

- Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm Th phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0006255 ngày 24/5/2024 tại Chi cục Th hành án dân sự huyện Krông Búk.

Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ