vanban.org

Bản án 17/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc M được ly hôn với ông Huỳnh Trần Gia B.

[2]. Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Tuệ N - sinh ngày 15/5/2020, cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà M xin ly hôn ông B"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc M được ly hôn với ông Huỳnh Trần Gia B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH H
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 4 - 2024
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hùng Cường

Ông Võ Văn Nhu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D - tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 365/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXX-ST ngày 23/02/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc M

- sinh năm 2000 Địa chỉ: thôn Phước Lương, xã T, huyện D, tỉnh H. Địa chỉ liên lạc: thôn Tây Nam, xã C, huyện V, tỉnh H.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Trần Gia B - sinh năm 1994

Địa chỉ: thôn Phước Lương, xã Thọ, huyện D, tỉnh H.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 01/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc M trình bày: bà và ông Huỳnh Trần Gia B tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã T vào năm 2020. Giai đoạn đầu chung sống hạnh phúc, đôi khi có kình cãi với nhau. Đến tháng 01/2023, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do cả hai luôn có sự bất đồng về quan điểm sống trong vấn đề tài chính, thường có những lời nói, hành động làm tổn thương đến bà, không có sự tin tưởng, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Bà đã nhiều lần cố gắng khuyên, tạo cơ hội nhưng ông B vẫn không thay đổi bản tính, gia đình không hạnh phúc. Tình cảm giữa bà và ông B đã không còn, nên đã không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2023 cho đến nay. Bà yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Trần Gia B.

Về con chung: có 01 con chung là Huỳnh Tuệ N - sinh ngày 15/5/2020. Bà xin được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: bà M xác định giữa bà và ông B không có tài sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông Huỳnh Trần Gia B đến Tòa án làm việc, nhưng ông B vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Huỳnh Trần Gia B; con chung: có 01 con chung là Huỳnh Tuệ N - sinh ngày 15/5/2020. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: bà xác định giữa bà và ông B không có tài sản chung và nợ chung. Bị đơn ông B vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - Khánh Hòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn ông B vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M xin ly hôn với ông B. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Tuệ N - sinh ngày 15/5/2020 cho bà M trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; tài sản chung và nợ chung: bà M xác định không có nên không xem xét. Về án phí: bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông B.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc M và ông Huỳnh Trần Gia B tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã T và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2020 ngày 04/3/2020 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, theo bà M nguyên nhân là do cả hai luôn có sự bất đồng về quan điểm sống trong vấn đề tài chính, ông B thường có những lời nói, hành động làm tổn thương đến bà, không có sự tin tưởng, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Bà M không còn chung sống với ông B từ tháng 5/2023 cho đến nay. Do đó, tình cảm bà M dành cho ông B không còn. Tại biên bản xác minh ngày 28/11/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T thể hiện: Địa phương không có thông tin về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông B. Ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng ông B không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, ông B không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa bà M và ông B đã không còn tình cảm yêu thương gì với nhau, dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc M được ly hôn với ông Huỳnh Trần Gia B là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về con chung: Bà M và ông B có 01 con chung là Huỳnh Tuệ N - sinh ngày 15/5/2020. Hiện tại, bà M đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu N nên cần để bà M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nhi là phù hợp với pháp luật.

Bà M không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung: bà M xác định giữa bà và ông B không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về nợ chung: bà M xác định giữa bà và ông B không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: bà M phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc M được ly hôn với ông Huỳnh Trần Gia B.

[2]. Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Tuệ N - sinh ngày 15/5/2020, cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà M, ông B có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về tài sản chung: không có.

[4]. Về nợ chung: không có.

[5]. Về án phí: bà Huỳnh Thị Ngọc M nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà bà M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001017 ngày 22/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D - Khánh Hòa; bà M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ