vanban.org

Bản án 17/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Viết V.

Về con chung: Ông Nguyễn Viết V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 17/10/2010 và cháu Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày 20/8/2014. Bà Lê Thị Hồng T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Lê Thị Hồng T được quyền thăm nom, chăm sóc con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Hồng T ly hôn với Nguyễn Viết V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Viết V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-4-2024
V/v “tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hạnh;

Bà Đỗ Thị Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 300/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Bà Thanh vắng mặt đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Viết V, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (ông Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T, trình bày: Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V yêu thương nhau rồi kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 27/9/2010 tại UBND thị trấn Nhuyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc như sau đó thì này sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông V không quan tâm, lo lắng làm ăn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được và bà T ông V đã sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Nay bà Lê Thị Hồng T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Hồng T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Lê Thị Hồng T được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V có 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 17/10/2010 và cháu Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày 20/8/2014. Vì sau khi ly thân, bà T đi làm ăn xa nên 02 người con chung sống với ông V nên nay bà Lê Thị Hồng T đồng ý giao cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu S và cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con chung trước đây bà T có nguyện vọng được cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.500.000 đồng/cháu/tháng, tuy nhiên nay do hoàn cảnh kinh tế khó khăn hơn nữa ông V cũng không yêu cầu bà T cấp dưỡng vì vậy bà T xin được không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Hồng T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo bản trình bày ý kiến bị đơn ông Nguyễn Viết V trình bày: Ông Nguyễn Viết V xác định giữa ông V và bà T có mâu thuẫn, ông V đồng ý ly hôn với bà T. Về con chung, ông V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu S và cháu L và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì bận công việc nên ông V xin vắng mặt tại cái buổi làm việc và tại phiên toà, ông V đề nghị Toà án xét xử vắng mặt ông V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V có đăng ký kết hôn, nay bà T xin ly hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hiện bị đơn ông Nguyễn Viết V có nơi cư trú tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến yêu cầu của mình trong các biên bản làm việc, bản khai, đơn trình bày tại Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với ông V, bà T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V cùng xác nhận, giữa ông V và bà T có mâu thuẫn vợ chồng. Theo bà T thì nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông V không quan tâm, lo lắng làm ăn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được và bà T, ông V đã sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Nay bà Lê Thị Hồng T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Hồng T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Lê Thị Hồng T được ly hôn với ông V.

Ông V thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Tuy nhiên ông V không đến tham gia hòa giải nên không thể ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông V và bà T.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn nhận thấy có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, cả hai đều không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà T và ông V có 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 17/10/2010 và cháu Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày 20/8/2014. Nếu ly hôn ông V có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Minh S và cháu Nguyễn Lê Phương L. Ông V không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T đồng ý với nguyện vọng nuôi con chung của ông V.

Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành lấy ý kiến, nguyện vọng của con chung là cháu Nguyễn Minh S và cháu Nguyễn Lê Phương L, ghi nhận được nội dung là nguyện vọng của cháu Nguyễn Minh S và cháu Nguyễn Lê Phương L được sống chung với ông V.

Căn cứ vào ý kiến, nguyện vọng của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền và lợi ích được bảo vệ và nhận thấy ông V có thu nhập và nơi ở ổn định, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên, căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về con chung giữa các đương sự, giao cho ông V được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Minh S và cháu Nguyễn Lê Phương L.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vì ông V không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần ghi nhận sự tự nguyện của ông V là không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Bà Lê Thị Hồng T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Viết V.

Về con chung: Ông Nguyễn Viết V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 17/10/2010 và cháu Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày 20/8/2014. Bà Lê Thị Hồng T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị Hồng T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Viết V không yêu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Hồng T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008753, ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu. Bà Lê Thị Hồng T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 4 năm 2024) các đương sự được quyền kháng cáo. Do bà T và ông V đều vắng mặt nên thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc.

Cỡ chữ