- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Qua R.
- Căn cứ chính? Điều 08 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày 25/12/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| “V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Qua R và anh S” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Lê Thị Tranh.
Các Hội Thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Trung Hòa
- Ông Kim Na Rinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thị Vân Khoa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lý Phước Bền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 65/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐST-HN, ngày 13/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HN, ngày 29/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Qua R, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
Bị đơn: Anh Kim S, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt
Con chung của chị Qua R và anh S tên:
- Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007. Vắng mặt
- Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Thạch Thị Qua R trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2006 chị và anh Kim S quen nhau và tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định, thời gian chung sống chị và anh S có 03 con chung tên Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007, Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Ngọc T2, sinh ngày 03/02/2023 chị đang nuôi dưỡng, nguyên nhân mâu thuẫn chị Qua R cho rằng anh S vô tâm, không lo cho gia đình, anh S đi làm không gởi tiền lo cho vợ con, kinh tế trong gia đình chị Qua R tự lo liệu, mạnh ai nấy sống và ly thân 06 tháng nay tình cảm giữa vợ chồng cũng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim S.
Về con chung tên: Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007, Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Ngọc T2, sinh ngày 03/02/2023 chị đang nuôi, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Qua R không tranh chấp, không khởi kiện, không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Về số nợ phải thu, phải trả: Chị Qua R không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Kim S vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay con chung của chị Qua R và anh Kim S tên Kim Thị Mỹ T và Kim Thị Mỹ T1 vắng mặt không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng quy định pháp luật. Về chấp hành pháp luật của đương sự chị Qua R chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng anh S không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đều tống đạt, niêm yết đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của Qua Ry, xử cho chị Qua R và anh S được ly hôn với nhau, về con chung Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007, Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Ngọc T2, sinh ngày 03/02/2023 chị Qua R đang nuôi, tại phiên toà hôm nay chị Qua R yêu cầu được tiếp tục nuôi và tại biên bản ghi lời khai 23/10/2024 con chung tên Mỹ T và Mỹ T1 có nguyện vọng được sống chung với chị Qua R, để con chung Mỹ T, Mỹ T1 và Ngọc T2 có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tin thần nên đề nghị để chị Qua R được quyền trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn là phù hợp, về cấp dưỡng nuôi con chị Qua R không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và số nợ phải thu, phải trả chị Qua R không tranh chấp, không yêu cầu nên không xem xét, về án phí chị Qua R được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Kim S có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn của chị Qua R khởi kiện xin ly hôn với anh S và yêu cầu được nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Qua R và anh S chung sống với nhau năm 2006 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các Điều 08 và Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa chị Qua R và anh S là hợp pháp.
Xét thấy quá trình chung sống giữa chị Qua R và anh S tuy chưa thống nhất nhau về quan điểm đời sống vợ chồng, lối sống, về cách ứng xử giao tiếp thì anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại, cùng nhau góp ý, xây dựng, chia sẽ và tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp nhất nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi mâu thuẫn phát sinh chị Qua R và anh S đều bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, không còn quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, anh chị luôn bất hòa với nhau về mọi mặt, từ khi ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay anh chị cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình mạnh ai nấy sống làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt. Toà án hoà giải 02 để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng phía anh S không đến và cũng tại phiên tòa hôm nay anh S vắng mặt lần thứ hai không có lý do, từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.
Tại phiên tòa hôm nay chị Qua R xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Qua R xin được ly hôn với anh S là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của chị Qua R, xử cho chị Qua R và anh Kim S được ly hôn với nhau.
- Về nuôi con tên: Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007, Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Ngọc T2, sinh ngày 03/02/2023 là con chung của chị Qua R và anh S, trong thời gian vợ chồng ly thân đến nay con chung Mỹ T, Mỹ T1 và Ngọc T2 sống chung với chị Qua R được chị Qua R nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặt và tại biên bản ghi lời khai ngày 23/10/2024 con chung Mỹ T và Mỹ T1 có nguyện vọng được sống chung với chị Qua R. Tại phiên tòa chị Qua R xin được quyền nuôi dưỡng con chung Mỹ T, M và Ngọc T2 là phù hợp, để con chung Mỹ T, Mỹ T1 và Ngọc T2 có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tin thần, Hội đồng xét xử giao con chung Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007, Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Ngọc T2, sinh ngày 03/02/2023 cho chị Qua R được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết chị Qua R không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Qua R không khởi kiện, không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị Qua R không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thạch Thị Qua R được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định pháp luật.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 01 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 01 Điều 12, Điều 14, 15, của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Qua R.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Qua R và anh Kim S được ly hôn với nhau.
- Về nuôi con: Chị Thạch Thị Qua R được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 26/9/2007, Kim Thị Mỹ T1, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Ngọc T2, sinh ngày 03/02/2023 sau khi ly hôn.
Anh Kim S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Qua R không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Qua R không khởi kiện, không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị Qua R không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thạch Thị Qua R thuộc diện người dân tộc thiểu số sống ở ấp Ô là ấp có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào điểm đ khoản 01 Điều 12, Điều 14, 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Thạch Thị Qua R được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện, tỉnh; - Chi Cục THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Thị Tranh |