vanban.org

Bản án 17/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT đối với chị Hồ Thị Quỳnh D. Buộc chị Hồ Thị Quỳnh D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT tiền vốn và lãi tính đến ngày 20/02/2024 là 28.274.296 đồng, trong đó tiền vốn 27.472.770 đồng; tiền lãi là 801.526 đồng; đồng t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP SGTT tranh chấp hợp đồng vay tài sản với chị Hồ Thị Quỳnh D"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/DS-ST
Ngày: 08-5-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng, ông Nguyễn Văn Tịnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Lê Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2024/TLST-DS, ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT.

Địa chỉ: Số 266-268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D - chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Hồ Thanh K, sinh năm 1990 là Phó phòng giao dịch Đông Hải.

(Văn bản ủy quyền số 23/2024/GUQ-PGDĐH ngày 21/02/2024)

Bị đơn: chị Hồ Thị Quỳnh D, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Ấp 3, thị trấn GH, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

(Đại diện Ngân hàng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21/02/2024, trong quá trình tố tụng đại diện Ngân hàng trình bày:

Ngày 30/5/2018, chị Hồ Thị Quỳnh D ký “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” tại Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT phòng giao dịch Đông Hải. Qua xem xét đề nghị của chị D, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho chị với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng. Mục đích vay tiền để tiêu dùng cá nhân. Tại thời điểm vay tiền chị D không thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị D có rút tiền trong tài khoản để tiêu dùng và có trả nhưng trả không đầy đủ và không đúng thời gian như đã cam kết.

Tính đến 20/02/2024, chị D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 28.274.296 đồng, trong đó tiền vốn 27.472.770 đồng; tiền lãi là 801.526 đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị D trả tiền vốn và lãi nêu trên, đồng thời trả tiền lãi phát sinh từ ngày 21/02/2024 cho đến khi trả hết nợ theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 30/5/2018.

Chị Hồ Thị Quỳnh D vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Ý kiến về giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT đối với chị Hồ Thị Quỳnh D. Buộc chị D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT tiền vốn và lãi tính đến ngày 20/02/2024 là 28.274.296 đồng; đồng thời trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký từ ngày 21/02/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Về án phí, chị D chịu theo quy định của pháp luật, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT tranh chấp hợp đồng vay tài sản với chị Hồ Thị Quỳnh D, chị D có địa chỉ tại ấp 3, thị trấn GH, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Anh Hồ Thanh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị Hồ Thị Quỳnh D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Khởi, chị D.

. Về nội dung vụ án.

Xét yêu cầu của Ngân hàng đối với chị D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 30/5/2018, chị Hồ Thị Quỳnh D ký “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” tại Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT phòng giao dịch Đông Hải và được cấp thẻ tín dụng cho chị với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng. Mục đích vay tiền để tiêu dùng cá nhân.

Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng cho chị D, triệu tập chị đến Tòa án làm việc liên quan đến yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với chị nhưng chị đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, căn cứ vào “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định việc chị D vay tiền tại Ngân hàng là có diễn ra trên thực tế.

Tính đến ngày 20/02/2024, chị D còn nợ Ngân hàng 28.274.296 đồng, trong đó tiền vốn 27.472.770 đồng; tiền lãi là 801.526 đồng nên cần buộc chị D trả toàn bộ số tiền trên, đồng thời trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng từ ngày 21/02/2024 theo hợp đồng đã ký đến khi hết nợ là có căn cứ.

. Về án phí dân sự sơ thẩm buộc chị Hồ Thị Quỳnh D phải chịu 1.413.700 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng 706.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp vào ngày 13/3/2024 theo biên lai thu tiền số 0010056. Các khoản tiền đương sự nhận và nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT đối với chị Hồ Thị Quỳnh D.

Buộc chị Hồ Thị Quỳnh D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT tiền vốn và lãi tính đến ngày 20/02/2024 là 28.274.296 đồng, trong đó tiền vốn 27.472.770 đồng; tiền lãi là 801.526 đồng; đồng thời tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 21/02/2024 theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 30/5/2018 cho đến khi trả hết nợ.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Hồ Thị Quỳnh D phải nộp 1.413.700 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng 706.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp vào ngày 13/3/2024 theo biên lai thu tiền số 0010056. Các khoản tiền đương sự nhận và nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ