- Tranh chấp gì? án hình sự — "MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: V Thị Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Bản án số: 17/2023/HSST Ngày: 09 – 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lương Thị Cúc
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Mai Đ c Danh
2. Ông: Lê Th Hải
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2023. Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST- HS, ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
V THỊ TH – Sinh năm 1985; Nơi sinh: xã Thanh Th, thị xã Nghi S, Thanh H và nơi ở hiện nay: thôn Minh L, xã Trường L, TX. Nghi S, Thanh H; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không bi t chữ; Con ông: V Lạnh X đã ch t và con bà Đ Thị L – Sinh năm 1956; Có ch ng: Nguyễn Hữu C – Sinh năm 1985, có 02 con lớn SN 2008, nhỏ SN 2011;Tiền án: Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam t ngày 05/8/2022 cho đ n nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Kh c Hải – Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPL tỉnh Thanh Hóa, chi nhánh số 7 – v ng mặt
- Người làm ch ng: Lê Trọng T – sinh năm 1977 – V ng mặt
Trú tại: Thôn 7, xã Tân Tr, TX. Nghi S, Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
H i 15h00’ ngày 01/8/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn làm việc với đối tư ng nghiện ma túy, đang điều trị Methadone là Lê Trọng T, sinh năm 1977, trú tại thôn 7, xã Tân Trường, thị xã Nghi Sơn, Tuấn đã khai nhận vào ngày 27/7/2022, T có mua 01 gói Heroine của Th, sinh năm 1985, ở thôn Minh L, xã Trường L, thị xã Nghi S với giá 500.000 đ ng và đã sử dụng h t. Trên cơ sở lời khai của T, Cơ quan điều tra đã triệu tập Th đ n làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Th đã th a nhận hành vi bán trái phép chất ma túy như Tuấn đã khai báo trên, đ ng thời Th còn khai nhận bản thân đang cất giấu 33 gói Heroine tại nhà nhằm mục đích để bán ki m lời (BL 98-99, 129-135).
Ti n hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Th ở thôn Minh L, xã Trường L, thị xã Nghi S, Cơ quan điều tra thu giữ:
- Thu giữ trên móc treo quần áo phía Tây phòng b p: 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 túi nilon màu tr ng đựng 33 gói giấy màu tr ng đều ch a chất bột màu tr ng ngà dạng cục.
- Thu giữ trong két s t phía Tây phòng ngủ: số tiền 21.500.000 đ ng.
- Thu giữ trên mặt bàn phòng khách: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 866988040498171, số IMEI 2: 866988040498163, l p sim 1 số 0965.187.164 và sim 2 số 0365.727.164; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358414106263370, l p sim số 0368.301.823 (BL 25 - 27).
Tại Bản k t luận giám định số 2641/KL-KTHS, ngày 04/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa k t luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn trong 33 gói giấy màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Th nêu trên là ma túy, có tổng khối lượng 10,825 gam, loại: Heroine (BL 45).
Tại Bản k t luận giám định số 3579/KL-KTHS, ngày 19/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa k t luận: Kiểu gen của Th, sinh năm 1985, trú thôn Minh Lâm, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa trùng với kiểu gen thu giữ được trên túi nilon màu trắng và túi nilon màu đen và trên 33 gói giấy màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Th gửi giám định (BL 62, 66).
Tại Bản k t luận giám định số 2695/KL-KTHS, ngày 09/8/202, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa k t luận: Số tiền 21.500.000 đồng thu giữ khi khám xét chỗ ở nhà của Th gửi giám định là tiền thật (BL 57).
Về ngu n gốc số ma túy trên, Th khai nhận: Vào tối ngày 25/7/2022 và ngày 27/7/2022, Th mua của một người đàn ông không quen bi t 02 lần ma túy tại khu vực nhà máy bao bì Đại Dương ở thôn Ninh Sơn, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn với số tiền lần lư t là 2.000.000 đ ng và 6.000.000 đ ng. Sau đó, Th đem ma túy về nhà chia ra thành các gói nhỏ để bán ki m lời. Đ n chiều ngày 27/7/2022, Lê Trọng Tuấn đ n hỏi mua ma túy, Th đã bán cho Tuấn 01 gói ma túy với giá 500.000 đ ng, số còn lại 33 gói ma túy Th cho tất cả vào túi nilon màu tr ng, sau đó cho vào túi nilon màu đen treo trên móc quần áo phía Tây phòng b p của gia đình và đã bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp (BL: 98-125, 130-135).
Ngoài việc bán trái phép chât ma túy cho Lê Trọng T như đã nêu trên, thì Th còn khai nhận vào ngày 28/7/2022, Th còn bán cho V Ti n Th1, sinh năm 1990, trú tại thôn Minh L, xã Trường L, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh Hóa 01 gói Heroine với giá 500.000 đ ng. Cơ quan điều tra đã ti n hành xác minh, nhưng hiện tại đối tư ng Th1 không có mặt tại địa phương nên chưa làm rõ đư c sự việc. Về nội dung này, Cơ quan điều tra sẽ ti p tục điều tra, xác minh và xử lý sau khi có đủ căn c (BL 137-147).
Về người bán ma túy, do Th khai không quen bi t, không rõ danh tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý ki n gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSNS, ngày 05/01/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố V Thị Th về tội “Mua án trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quy t định truy tố và đề nghị HĐXX căn c : điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS và đề nghị m c hình phạt t 09 năm đ n 09 năm 06 tháng tù.
Về phần vật ch ng: Đề nghị Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ đư c trong vụ án; Tịch thu xung công số tiền 500.000đ là tiền Th bán ma túy cho T mà có, trả lại cho bị cáo số tiền 21 triệu. Trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358414106263370, l p sim số 0368.301.823.
Về hình phạt b sung: Không áp dụng đối với bị cáo
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST.
Về quan điểm bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật mà VKS ND Thị xã Nghi Sơn đã truy tố với bị cáo. Về m c hình phạt đề nghị HĐXX, xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX trả lại số tiền thu giữ của bị cáo sau khi tịch thu xung công số tiền 500.000đ bị cáo bán ma túy cho T.
Bị cáo nhận tội, không có ý ki n tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận th c đư c hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Phân tích tính h p pháp của các hành vi, quy t định tố tụng:
Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có liên quan không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
. Phân tích những ch ng c xác định có tội, ch ng c xác định không có tội:
Căn c vào lời khai của người làm ch ng và lời khai của các bị cáo có trong h sơ c ng như tại phiên tòa đã th a nhận: Vào ngày 27/7/2022, V Thị Th đã có hành vi bán trái phép cho Lê Trong T một gói ma túy loại Heroin không xác định đư c trọng lư ng với giá 500.000đ. Quá trình làm việc với V Thị Th, bị cáo đã tự giác khai nhận hiện đang tàng trữ trái phép 10,825gam ma túy loại Heroin tại nhà mình ở nhằm mục đích bán lấy tiền. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải đưa bị cáo ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quy t định truy tố bị cáo V Thị Th về tội: “Mua án trái phép chất ma túy'', theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS.
Đối với hành vi bị cáo khai có bán ma túy cho V Ti n Th1 một lần tuy nhiên quá trình điều tra đã ti n hành xác minh nhưng hiện tại đối tư ng V Ti n Th1 không có mặt tại địa phương nên CQĐT chưa làm rõ đư c nội dung này. Hiện đang ti p tục điều tra và xử lý sau.
Bị cáo nhận tội, không có ý ki n tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận th c đư c hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nh hình phạt.
Lời khai nhận của bị cáo phù h p với tang vật cùng các ch ng c khác có trong h sơ, phù h p với lời k t luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở k t luận: Hành vi phạm tội của bị cáo V Thị Th về tội: “Mua án trái phép chất ma túy'', theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS.
. Xét tính chất vụ án: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình th c trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã Nghi Sơn nói riêng ngày càng tăng. Bị cáo đủ nhận th c để hiểu đư c những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đ n tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, và ảnh hưởng trực ti p tới s c khỏe c ng như ti p tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương x ng với hành vi phạm tội của mình.
. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội không có tình ti t tăng nặng, sau khi phạm tội đã thật thà, thành khẩn khai báovề hành vi phạm tội và những lần bán trái phép trước đó, bản thân bị cáo không bi t chữ, hạn ch về mặt nhận th c, có hoàn cảnh kinh t khó khăn, một con nhỏ bị bệnh tim bẩm sinh có xác nhận của chính quyền địa phương vì vậy khi lư ng hình bị cáo đư c áp dụng các tình ti t giảm nh tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên xét thấy khối lư ng ma túy tương đối nhiều, phạm tội thuộc trường h p rất nghiêm trọng nên cần phải áp dụng hình phạt tù cho bị cáo và lên cho bị cáo một m c hình phạt nghiêm kh c để răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.
Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh t khó khăn, hiện tại ch ng mới chấp hành án phạt tù, hiện đang bị tai nạn, con còn nhỏ, một cháu bị bệnh tim bẩm sinh nên HĐXX ngh chưa cần thi t áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS làm hình phạt b sung cho bị cáo để bị cáo thấy đư c tính nhân đạo của pháp luật.
. Về vật ch ng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
Tịch thu xung công số tiền 500.000đ là tiền Th bán ma túy cho T mà có. Trả lại cho Th số tiền 21 triệu vì đây là tiền do bị cáo bán cây trên rẫy có đư c không liên quan đ n hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358414106263370, l p sim số 0368.301.823 vì không ch ng minh đư c việc Th dùng điện thoại để thự hiện việc mua bán ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo ủy quyền lại cho em gái bị cáo là chị V Thị Hiền có địa chỉ tại TDP Hưng Sơn, phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa đư c quyền thay mặt bị cáo để nhận lại các tài sản trên.
. Xét quan điểm bào chữa cho bị cáo: HĐXX thấy phù h p với nhận định của HĐXX nên đư c chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm i Khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS
- Tuyên bố: V Thị Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: V Thị Th 09 năm tù. Thời gian chấp hành án tính t ngày 05/8/2022. Ti p tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì đư c dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Nguyễn Như Nguyện và các hình dấu của phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa bên trong đựng toàn bộ vỏ bao gói niêm mở niêm phong và 9,948gam chất bột màu tr ng ngà dạng cục vụn trong 33 gói giấy màu tr ng theo k t luận giám định là ma túy loại Heroin còn lại sau giám định đã qua sử dụng; Một hộp giấy đư c dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Thị Bích Ngọc, Tống Văn Ngọc và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa bên trong đựng một túi ni lông màu đen, một túi ni lông màu tr ng và 33 mảnh giấy màu tr ng; một phong bì ký hiệu K5 đư c dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên của Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Trọng Trọng, H Đặng Hùng, V Thị Th và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358414106263370, l p sim số 0368.301.823.
Tất cả các tang vật trên đang đư c nhập kho theo phi u NK2023/16 ngày 17/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tịch thu xung công số tiền 500.000đ và trả lại cho bị cáo số tiền 21.000.000đ hiện đang đư c gửi giữ tại Kho bạc nhà nước thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo phi u nhập kho ngày 02/11/2022 của Kho bạc nhà nước thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa.
Chị V Thị Hiền có địa chỉ tại TDP Hưng Sơn, phường Hải Ninh, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa đư c quyền thay mặt bị cáo Th đ n Chi cục THADS Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa để xin nhận lại các tài sản trên của bị cáo Th.
- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo đư c kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
Trường h p bản án đư c thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người đư c thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng ch THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKS ND tỉnh Thanh Hóa - VKSND thị xã Nghi Sơn; - CQĐT CA TX Nghi Sơn; - Nhà tạm giữ CA TX Nghi Sơn - THADS thị xã Nghi Sơn; - Bị cáo; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Thị Cúc |