- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê Thị Phương Thảo - Giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Phương T phạm tội “Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HSST Ngày: 10/4/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/HSST ngày 14/3/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 29/3/2023 đối với bị cáo: Lê Thị Phƣơng T - sinh năm 2001; Quê quán: xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Cao D và bà Đinh Thị X; có chồng Lê Tuấn A – sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà Đinh Thị L – sinh năm 1968 (Đã chết) Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP. Hà Nội Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Đinh Văn H – sinh năm 1964 (có mặt) Trú tại: thôn Đ, xã H, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Cao D (Lê Phúc D) – sinh năm 1978 (vắng mặt)
Trú tại: thôn H, xã H, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội
* Người làm chứng:
- Anh Đinh Trọng Đg – sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Chị Phạm Thị L – sinh năm 1984 (vắng mặt) Đều trú tại: thôn B, xã H, huyện U, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05h05’ ngày 04/10/2022, Lê Thị Phương T đến nhà bố đẻ (Lê Cao D) ở Xóm 2, thôn H, xã H, huyện Mỹ Đức mượn xe mô tô biển kiểm soát (Viết tắt: BKS) 29Y1- 128.38 để đi làm. Sau đó, Thảo điều khiển xe mô tô đi đến khu Công nghiệp Đồng Văn, thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam để làm việc. Trong khoảng thời gian trên bà Đinh Thị L ở thôn Đốc Kính, xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức cũng điều khiển xe đạp điện không đeo BKS đi từ nhà đến khu Công nghiệp Đồng Văn, thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam để làm việc. Khoảng 05 giờ 28 phút cùng ngày, bà Liên điều khiển xe đạp điện đi đến Km 3+100 đường tỉnh lộ 425 thuộc địa phận thôn Bài Lâm Hạ, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hoà hướng Hương Sơn đi Dốc Bồ dừng lại, dựng xe đạp điện ở lòng đường và đứng trên đường. Lúc này, Thảo điều khiển xe mô tô đi cùng chiều đến, do trời tối, mưa to, tầm nhìn bị hạn chế, Thảo không chú ý quan sát và không giảm tốc độ nên khi đến gần vị trí bà L đứng T mới phát hiện thấy bà Liên, Thảo không kịp xử lý nên phía trước đầu xe mô tô do Thảo điều khiển va chạm với bà L. Sau khi va chạm bà L và T đều bị ngã xuống đường, xe mô tô do T điều khiển bị đổ nghiêng bên phải xuống đường. T đứng dậy thấy mình bị chảy máu ở vùng mặt, bà L nằm bất tỉnh ở đường, T lay gọi nhưng không thấy bà L trả lời thì đi vào nhà anh Đinh Trọng Đông ở gần đó gọi nhờ sơ cứu vết thương cho mình và nhờ người đưa bà L đi cấp cứu. Hậu quả: Bà L bị thương tích ở cẳng chân, chấn thương sọ não, chấn thương vùng bụng, được cấp cứu tại Bệnh viện Mỹ Đức sau chuyển Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ ngày 04/10/2022 đến ngày 07/10/2022 thì ra viện, đến ngày 08/10/2022 bà Liên tử vong tại nhà. T bị gãy xương chính mũi, điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ ngày 04/10/2022 đến ngày 10/10/2022. Vật chứng thu giữ: “- 01 xe mô tô Honda Wave ZX, biển kiểm soát: 29Y1-128.38; - 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Thị Phương Thảo; - 01 chứng nhận đăng ký xe của xe mô tô BKS: 29Y1 - 128.38; - 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe mô tô BKS: 29Y1 - 128.38; - 01 xe đạp điện, không đeo BKS màu đỏ đen nhãn hiệu Raptor, số máy ZH48V350W – 220716191; - 01 video có tên “2524606520419984925.mp4” thu giữ từ nhà ông Đinh Trọng Đông được lưu trữ trong đĩa DVD nhãn hiệu Maxell”. * Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều, được phân cách bằng vạch sơn đứt quãng, mặt đường dải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng, không có ổ gà; hai bên đường không có dân cư sinh sống; lòng đường rộng 7m, lề đường hai bên đều rộng 1m. Điểm mốc: cột mốc Km H1/3; lấy mép đường bên trái theo hướng Đục Khê đi Dốc Bồ tại nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn để mô tả dấu vết, phương tiện, nạn nhân theo hướng Đục Khê đi Dốc Bồ:
- Vị trí xe đạp điện (1) dựng đứng, đầu xe hướng Dốc Bồ, đuôi xe hướng Đục Khê; đo hình chiếu tâm đầu trục trước bên trái xe đạp điện tới mép đường chuẩn là 6,2m; đo hình chiếu tâm đầu trục sau bên trái xe đạp điện tới mép đường chuẩn là 6,3m, đo vuông góc tới cột mốc H1/3 là 2,2m.
- Vết cày (2) liền, hướng Đục Khê đi Dốc Bồ, kích thước (viết tắt: KT) (4,05x0,03)m; đo đầu vết cày tới mép đường chuẩn là 6,1m; đo vuông góc tới hình chiếu tâm đầu trục sau bên trái xe đạp điện là 2m; đo tâm cuối vết cày tới mép đường chuẩn là 7m.
- Vết cày (3) nằm sục trên nền mặt đất hướng Đục Khê đi Dốc Bồ, KT (2,8x0,18)m; đo tâm đầu vết cày tới mép đường chuẩn là 7,2m; đo vuông góc tới tâm đầu vết cày (2) là 4,2m; đo tâm cuối vết cày tới mép đường chuẩn là 8,75m.
- Vị trí xe mô tô BKS: 29Y1 - 128.38 (4): xe đổ nghiêng sườn xe bên phải, đầu xe hướng Dốc Bồ, đuôi xe hướng Đục Khê; đo hình chiếu tâm trục bánh sau xe mô tô tới mép đường chuẩn là 8,4m; đo vuông góc tới tâm đầu vết cày (3) là 1,8m; đo hình chiếu tâm trục bánh sau xe tới mép đường chuẩn là 9,3m * Kết quả khám nghiệm tử thi: Ngày 08/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứng Hòa đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y đối với tử thi của bà Đinh Thị Liên. Ngày 28/10/2022, Trung tâm pháp y Hà Nội ra Bản kết luận giám định pháp y tử thi kết luận:
- Kết quả khám bên ngoài cơ thể bà Đinh Thị Liên: + Đầu - Mặt: vùng đầu có vết mổ còn chỉ khâu chạy từ vùng trán phải qua vùng đỉnh tới vùng thái dương phải KT(28,5 x 01)cm; loét da vùng trán đỉnh thái dương phải KT(4,5 x 3,5)cm; loét da dạng do tỳ đè vùng chẩm KT(6x5)cm; sờ nắn thấy khuyết xương vùng trán đỉnh thái dương phải; lỗ tai phải có máu khô, lỗ tai trái khô; + Ngực bụng: mặt trước vai phải ngang thân xương đòn phải có vết thủng da KT(1,5 x 0,5)cm (dấu vết đặt catherter). Bầm tím da ngực trái KT(2x2)cm, sờ nắn thấy ngực vững; + Tay phải: bầm tím da mặt trước khuỷu tay KT(5x3,5)cm; sây sát da mặt sau khuỷu tay KT(3x1,5)cm, sờ nắn không thấy gãy xương; + Tay trái: Sây sát bầm tím da mặt sau khuỷu tay KT(4,5x5)cm; bầm tím da mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay tới mu bàn tay KT(17x4)cm, sờ nắn không thấy gãy xương; + Chân phải: Sây sát da đã đóng vẩy mặt trước trong 1/3 giữa cẳng chân KT(4x2,5)cm; bầm tím da mặt trước trong gối KT(2x1)cm; sây sát da mắt cá ngoài KT(1x1)cm, sờ nắn không thấy gãy xương; + Chân trái: Sây sát da đã đóng vẩy mặt trước trong 1/3 giữa cẳng chân KT(1,5x0,5)cm, sờ nắn không thấy gãy xương; + Loét da vùng cụt trên diện (8x8)cm; + Loét da vùng lưng dạng do tỳ đè KT(14,5x6,5)cm. Do gia đình bà Liên có đơn xin từ chối giải phẫu pháp y tử thi và cương quyết không cho cơ quan điều tra giải phẫu tử thi. Do vậy, việc giải phẫu tử thi bà Liên không tiến hành được, Cơ quan điều tra đã lập biên bản về việc này. * Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ZX, BKS: 29Y1-128.38: Bật rời gương chiếu hậu bên trái của xe, cần gương xoay theo chiều từ trước về sau, cần gương chiếu hậu bên phải của xe xoay tự do. Nứt vỡ cánh yếm chắn gió bên trái của xe trên diện (15x8,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 49cm, cao nhất cách đất 62cm, vết nứt vỡ ở khoảng giữa cánh yếm. Mặt trước mép dưới mặt nạ xe có vết trượt bám chất màu trắng trên diện (4,5x1,5)cm, điểm cao nhất cách đất 70,5cm; rạn nứt nhựa tại ốc bắt phía trên và phía dưới bên phải của mặt nạ xe; mặt trên cung trước chắn bùn trước của xe có vết xước sơn nhựa trên diện (7x6)cm, dấu vết cách đấu trước chắn bùn 25cm, cách mép bên trái 8,5cm, tâm vết cách đất 68cm. Đầu tay phanh bên phải của xe bám dính nhiều đất bẩn. Bật rời lẫy bắt giữ giữa ốp nhựa vai càng trước bên phải và cung trước chắn bùn bánh trước. Đầu ngoài bàn đạp phanh chân có vết trượt xước kim loại bề mặt nham nhở KT(3x0,5)cm. Rách đầu ngoài bọc cao su để chân trước bên phải, giữa lõi kim loại bàn để chân và bọc cao su có bám dính nhiều đất bẩn, thân cây cỏ; mặt dưới đầu ngoài lõi kim loại bàn để chân trước bên phải có vết trượt xước kim loại KT(1,2x1)cm. Xe đạp điện, không đeo BKS, màu đỏ đen nhãn hiệu Raptor: Đầu ngoài tay lái bên phải có vết trượt xước nhựa, bề mặt nham nhở, đầu ngoài tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước sơn, kim loại KT(1,5x1)cm. Góc trước bên phải giỏ đèo hàng phía trước xe có các bết trượt xước nhựa, kim loại, bề mặt nham nhở KT(5x1)cm và KT(3x0,5)cm; mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên phải (phía dưới bàn để chân) có vết trượt xước nhựa, tem nhãn KT(24x3)cm, bề mặt nham nhở. Mặt ngoài đầu bên phải tay nâng xe và ốp nhựa phía dưới tay nâng có vết trượt xước nhựa, sơn, bề mặt nham nhở. * Kết quả giám định. Bản kết luận giám định số 7479/KL-KTHS, ngày 16/11/2022, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận đối với xe mô tô biển số 29Y1-128.38 và xe máy điện không đeo biển số: “- Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô và xe máy điện; - Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô và xe máy điện trên mặt đường; - Không xác định được tốc độ của xe mô tô và của xe máy điện tại thời điểm xảy ra tai nạn”. Bản kết luận giám định số 7502/KL-KTHS, ngày 01/02/2022, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định”. Bản kết luận giám định số 7861/KL-KTHS, ngày 25/11/2022, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với Lê Thị Phương T kết luận: “Đối chiếu bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/1019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với các thương tích như sau: - 02 sẹo kích thước nhỏ tại vùng sống mũi, mỗi sẹo 03% (áp dụng nguyên tắc 1, 2 và Mục I.1, Chương 8); - Gãy xương chính mũi, không di lệch, không ảnh hưởng chức năng thở: 07% (áp dụng Mục II.3.1, Chương 12). - Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương có thể do thương tích quy định tại Thông tư số 22/1019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lê Thị Phương T tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích tại vùng mũi của chị Lê Thị Phương T do vật tày gây ra”. * Kết quả định giá tài sản: Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2023 kết luận: “Tổng giá trị tài sản hư hỏng của xe mô tô BKS: 29Y1-128.38 là 570.000 đồng”.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố Lê Thị Phương T về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS). Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS, xử phạt Lê Thị Phương T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trả lại bị cáo giấy phép lái xe. Chiếc đĩa DVD tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ân hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng thừa nhận có một phần lỗi của người bị hại, xác nhận việc bị cáo đã bồi thường xong về trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu gì khác; đồng thời, tha thiết đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) có đủ căn cứ xác định: Lê Thị Phương T có giấy phép lái xe hợp lệ. Sáng sớm ngày 04/10/2022, sau khi mượn xe mô tô BKS: 29Y1-128.38 của bố đẻ là ông Lê Cao D để đi làm tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thì Thảo điểu khiển xe mô tô đi theo hướng Hương Sơn đi Dốc Bồ. Khi đi đến Km 3+100 đường tỉnh lộ 425 thuộc địa phận thôn Bài Lâm Hạ, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hoà, do trời vẫn tối, mưa to, tầm nhìn hạn chế nên khi nhìn thấy bà Đinh Thị L – sinh năm 1968 ở thôn Đốc Kính, xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức đang đứng trên đường, T không kịp phanh xe và đánh lái để tránh nên phần phía trước đầu xe mô tô do Thảo điều khiển đã va chạm với bà L. Hậu quả làm bà Đinh Thị L bị thương tích nặng, được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện huyện Mỹ Đức sau chuyển Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cấp cứu và điều trị nhưng đến ngày 08/10/2022 thì tử vong tại nhà. Lê Thị Phương T cũng bị thương tích gẫy xương mũi chính, được điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103 từ ngày 04/10/2022 đến ngày 10/10/2022 thì ra viện; giám định thương tích tổn hại 12% sức khoẻ. Xe mô tô BKS: 29Y1-128.38 do Thảo điều khiển bị hư hỏng thiệt hại 570.000 đồng. Theo qui định của pháp luật thì hành vi của Lê Thị Phương T đã vi phạm vào khoản 2, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả làm làm chết một người nên Lê Thị Phương T đã phạm vào “Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của VKSND huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản luật áp dụng như đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, mà còn trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác.
Xét tính chất, mức độ, nguyên nhân và lỗi:
- Đối với bị cáo: Với điều kiện thời tiết đang có mưa to, trời vẫn tối, địa điểm xảy ra tai nạn là khoản cách giữa 02 cột đèn đường nên tầm nhìn bị hạn chế; lẽ ra bị cáo phải giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn khi phát hiện có chướng ngại vật ở phía trước. Do bị cáo không tuân thủ các qui định của Luật giao thông đường bộ tại nơi xảy ra tai nạn nên khi phát hiện ra bà Liên thì bị cáo đã không kịp phanh, đánh lái để tránh dẫn đến hậu quả xảy ra va chạm giữ xe mô tô của bị cáo với bà L làm cho bà L bị tử vong.
- Đối với người bị hại: Về phía người bị hại cũng trong điều kiện giao thông như vậy nhưng bà L lại đỗ xe đạp điện trên đường không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông khác biết, không đỗ sát mép đường bên phải, đi bộ dưới lòng đường, không đi sát mép đường vi phạm điểm a , b khoản 3 Điều 18 và khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả, làm chị Lê Thị Phương T bị thường tích tổn hại 12% sức khoẻ, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 570.000 đồng. Do vậy, người bị hại cũng có lỗi, đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn xảy ra. Tuy nhiên, do bà Liên đã tử vong nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là phù hợp.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh bản thân và gia đình bị cáo thấy: Ngay sau khi xảy ra tai nạn bị cáo kêu cứu mọi người đưa bà Liên đi cấp cứu, bản thân bị cáo cũng được mọi người đưa đi cấp cứu điều trị; sau khi ra viện bị cáo đã tích cực thăm hỏi, bồi thường, hỗ trợ xong cho gia đình nạn nhân; người đại diện theo uỷ quyền của gia đình nạn nhân xác nhận việc thăm hỏi, bồi thường xong về trách nhiệm dân sự của bị cáo, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; tại phiên tòa, đại diện gia đình người bị hại xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, người bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện qui định tại Điều 65 của BLHS, cho bị cáo hưởng mức thấp của khung hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Với hình phạt này cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung; phù hợp hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đồng thời, thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra giải quyết vụ án bị cáo đã bồi thường, hỗ trợ gia đình người bị hại tiền mai táng, tổn thất tinh thần 220.000.000đ; gia đình người bị hại xác nhận việc hai bên đã thỏa thuận bồi thường xong về trách nhiệm bồi thường dân sự và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Bị cáo cũng không yêu cầu gia đình bị hại bồi thường thương tích của mình cũng như phần hư hỏng xe mô tô. Xét việc bồi thường, nhận bồi thường và không yêu cầu bồi thường của các bên là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận, không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Xe mô tô BKS: 29Y1-128.38 cùng các giấy tờ liên quan đến việc lưu hành của xe đều có tên và là tài sản hợp pháp của ông Dư là bố đẻ của Thảo; ngày 04/10/2022 ông Dư cho Thảo mượn xe này làm phương tiện đi làm; sau đó, Thảo gây tai nạn. Bản thân Thảo có giấy phép lái xe hợp lệ nên ông Dư không có lỗi. Xe có đầy đủ giấy tờ, đủ điều kiện lưu hành, việc bồi thường giữa các bên đã giải quyết xong. Do vậy, CQĐT đã xử lý vật chứng trả lại xe cùng giấy tờ cho ông Dư, ông Dư đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường phần hư hỏng xe mô tô nên HĐXX không xét.
Đối với giấy phép lái xe của bị cáo bị thu giữ để phục vụ công tác điều tra được chuyển theo hồ sơ vụ án là chứng cứ để xác định việc bị cáo đủ điều kiện điều khiển xe mô tô tham gia giao thông. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần trả lại bị cáo giấy phép này (Trả tại Tòa án sau khi án có hiệu lực pháp luật).
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Phương T phạm tội “Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt Lê Thị Phương T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trả lại bị cáo giấy phép lái xe hạng A1, số 011209019348 mang tên Lê Thị Phương T.
Giao bị cáo Lê Thị Phương T cho UBND xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận việc bị cáo đã bồi thường xong về trách nhiệm dân sự cho gia đình người bị hại số tiền 220.000.000 đồng (Hai tram hai mươi triệu đồng), gia đình người bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu gì khác.
3. Về vật chứng: Xác nhận việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại xe mô tô BKS: 29Y1-128.38 cùng các giấy tờ theo xe và không yêu cầu bồi thường phần hư hỏng xe mô tô. Xác nhận việc gia đình bị hại đã nhận lại xe đạp điện không có biển kiểm soát, hiệu Raptor và không có yêu cầu gì khác. Chiếc đĩa DVD nhãn hiệu Maxell gửi kèm theo hồ sơ vụ án tiếp tục được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
4. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậnđược bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình)./.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; TÒA - CA, VKS, THA huyện Ứng Hoà; - Bị cáo, Người có QLNVLQ; - Người ĐDHP của bị hại; - Lưu HS, VP./. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Đình Kiến Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |