- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HSST Ngày: 10/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Ngô Thế Tương
Các Hội thẩm nhân dân : Bà Đỗ Thị Thu Hà và bà Vũ Thị Dinh.
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Bà: Phạm Thị Giang - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2022/TLST – HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Đoàn Thị L, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1987. Nơi cư trú: thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh B
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn T1 con bà Thiều Thị V (đều đã chết), chồng là Trịnh Huy T2 (đã ly hôn) có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2021 đều trú tại thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh B.
Tiền án; Tiền sự: Không
Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 12/12, sau đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh B (Có mặt)
Bị hại: Anh Vũ Đình P1, sinh năm 1975
(đã chết)
Nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp của bị hại
1. Ông: Vũ Đăng P2, sinh năm 1936 (Bố đẻ anh P).
2. Bà: Trần Thị T3, sinh năm 1942 (Mẹ đẻ anh P)
3. Chị: Bùi Thị H, sinh năm 1978
(Vợ anh P)
4. Anh: Vũ Đình P3, sinh năm 2001 (Con trai anh P)
Nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T, tỉnh B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu: Vũ Đăng M, sinh năm 2009
(Con trai anh Phú).
Người đại diện hợp pháp của cháu M: Chị Bùi Thị H (là mẹ đẻ)
Nơi cư trú: Tổ dân phố Mai Diêm, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
(Ông P2, bà T3, chị H có văn bản ủy quyền cho cho anh P3 tham gia tố tụng)
2. Anh Trịnh Huy T2, sinh năm 1981.
Nơi cư trú: thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh B
(Anh P3, chị H, cháu M, anh T2 có mặt, vắng mặt bà T3, ông P2 )
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 35 phút ngày 26/7/2022, Đoàn Thị L có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 341144006500 (do sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 13/10/2014) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, sơn màu đen đỏ, biển kiểm soát 17B3-545.18 đi hướng từ xã Thụy Liên đến thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy. Khi đi đến Km106+700, Quốc lộ 39A, đoạn đường thuộc tổ dân phố Nghĩa Chỉ, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, đoạn đường thẳng, hai chiều, không có vật che khuất tầm quan sát, là khu vực đông dân cư. Lúc này, L điều khiển xe với tốc độ khoảng 50 đến 55 km/h và đi ở khu vực giữa làn đường xe cơ giới theo chiều đi và cách xe L khoảng 10 m, L phát hiện thấy có 01 xe mô tô Honda Wave α, sơn màu xanh, biển kiểm soát 17 F8-7170 do ông Vũ Đình P1 điều khiển phía trước cùng chiều đang chuyển hướng sang bên trái đường. Do L không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ nên bánh trước xe mô tô của L đã va chạm vào khu vực ốp vai càng, bánh trước bên trái xe mô tô của ông P1 làm ông P1 và L cùng 02 xe mô tô đổ ngã xuống đường. Ông P1 bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình và Bệnh viên Việt Đức – Hà Nội, đến 06 giờ ngày 27/7/2022 ông Phú tử vong tại gia đình.
Tại bản kết luận giám định số 176/KL-KTHS (PY) ngày 06/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Ông Vũ Đình P bị đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân do tai nạn giao thông làm nứt vỡ xương sọ vùng đỉnh thái dương trái, chảy máu não. Nguyên nhân chết là do chấn thương sọ não”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 01/CT- VKSTT ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo Đoàn Thị L về tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo trình bày: Sau khi xảy ra tại nạn, bị cáo đã đưa bị hại đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, và nhờ người thân đưa bị hại chuyển lên bệnh viện Hà Nội nhưng bị hại đã không qua khỏi. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin lỗi những người đại diện hợp pháp của bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.
Người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Bùi Thị H và người đại theo ủy quyền là anh Vũ Đình P thống nhất trình bày: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự thỏa thuận, bị cáo phải bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền gồm: Tiền chi phí cứu chữa, mai táng phí, tiền cấp dưỡng nuôi cháu M một lần, tổn thất về tinh thần tổng cộng là 150.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 150.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương.
Luận tội của Kiểm sát viên: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Thị L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; ghi nhận sự tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả giữa bị cáo và đại diện của bị hại, không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.
Chị Hiền, anh Phương không có ý kiến tranh luật gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có khiếu nại về hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông P2, bà T3 vắng mặt nhưng tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lan đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản quản lý vật chứng, sơ đồ hiện trường, bản kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
. Như vậy đủ căn cứ để xác định: Khoảng 08 giờ 35 phút ngày 26/7/2022, Đoàn Thị Lan có giấy phép lái xe hạng A1 số 341144006500 (do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 13/10/2014) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 17B3-545.18 đi hướng từ xã Thụy Liên đến thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, khi đi đến Km106+700, Quốc lộ 39A, đoạn đường thuộc tổ dân phố Nghĩa Chỉ, thị trấn Diêm Điền, thuộc khu vực đông dân cư. L không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn đã đâm vào xe mô tô Hon da Wave α, sơn màu xanh, biển kiểm soát 17 F8-7170 do anh Vũ Đình P1 điều khiển phía trước cùng chiều đang sang đường, anh P1 được đưa đi cấp cứu sau đó đã tử vong do chấn thương sọ não.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định về trật tự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, đó là nguyên nhân gây tai nạn giao thông, hậu quả làm anh P1 chết. Bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có giấy phép lái xe mô tô, khi tham gia giao thông phải tuân thủ Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, hành vi nêu trên của Đoàn Thị L đã vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ (được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ), nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 12. Luật giao thông đường bộ Tốc độ và khoảng cách giữa các xe (được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải):
Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 quy định:
Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
…
5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở, tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông...”
Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
. Xét về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, do đó cần phải quyết định một hình phạt tù, tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại và người đại diện theo ủy quyền xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn có một phần lỗi của bị hại là anh P1 điều khiển sang đường không có tín hiệu cảnh báo hướng rẽ, khi chuyển hướng không chú ý quan sát, điều khiển xe mô tô trong máu có nồng độ cồn 28,10mg/100ml máu. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hiện tại lao động tự do, hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, những người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền gồm: Tiền chi phí cứu chữa, tiền mai táng phí, tiền cấp dưỡng nuôi cháu M một lần, tiền tổn thất về tinh thần tổng cộng là 150.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 150.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại và người đại diện theo ủy quyền đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên cần công nhận sự thỏa thuận này.
. Cơ quan điều tra đã quản lý 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B3-545.18; 01 đăng ký xe mô tô số 061629 cấp ngày 30/10/2020; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Đoàn Thị L cấp ngày 13/10/2014, quá trình điều tra xác định đăng ký và giấy phép lái xe trên của Đoàn Thị L, chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng L, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy đã trả lại cho vợ chồng L. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 17 F8-7170, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của nạn nhân Vũ Đình P1, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy đã ra quyết định trả lại cho người đại diện được ủy quyền là anh Vũ Đình P1 là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 50, điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị L 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Đ, tỉnh T giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thì UBND cấp xã trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho UBND cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện Đ, tỉnh T thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 584, 585 và Điều 591 Bộ luật dân sự
Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về phần trách nhiệm dân sự. Bị cáo đã bồi thường xong cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 150.000.000 đồng. ( Số tiền 150.000.000 đồng trên bao gồm: Tiền chi phí cứu chữa, tiền mai táng phí, tiền cấp dưỡng nuôi cháu Minh một lần, tiền tổn thất về tinh thần)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; NQ 326/2016/UBTVQH 14 về Án phí, Lệ phí Tòa án
Bị cáo Đoàn Thị L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, chị H, anh P3, anh T2 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông P1 bà T3 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận - VKSND huyện Thái Thụy. - VKSND tỉnh TB - Chi cục THA huyện Thái Thụy. - TAND tỉnh Thái Bình. - Bị cáo. - Người đại diện hợp pháp của bị hại - Người có QLNVLQ - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Tương |