vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 26/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trình Văn Ng phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”

Về hình phạt: Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trình Văn Ng phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
  • Căn cứ chính? Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày 26-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nước – Cán bộ hưu.

Ông Ngô Công Bình – Công tác tại Phòng giáo dục thị xã Duyên Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm kín theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 01/TB-TA ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với: Bị cáo Trình Văn Ng, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1998. Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh. Nơi đăng ký thường trú: Ấp CT, xã TLH, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Thợ chụp hình; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trình Văn U, sinh năm: 1972 và Nguyễn Thị Tuyền G, sinh năm: 1977; Vợ, con: Chưa có. Bị cáo có tiền án: Bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 vào ngày 12/12/2022; tiền sự: không có. Bị cáo Trình Văn Ng đang chấp hành án tại Trại giam Bến Giá và được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an thị xã Duyên Hải (có mặt tại phiên toà tại điểm cầu thành phần).

- Bị hại: Em Võ Thị Kiều L, sinh ngày 15/10/2006, trú tại: Ấp CT, xã TLH, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (là mẹ của bị hại); trú tại: Ấp CT, xã TLH, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lục Khả T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: chỉ: Số 04 Lê Thánh Tôn, Phường 2, Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cáo trạng số: 15/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Trình Văn Ng về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo các điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015). Hành vi bị truy tố của bị cáo như sau: Trong thời gian từ ngày 17/02/2021 đến ngày 18/11/2021, bị cáo Trình Văn Ng và bị hại Võ Thị Kiều L, sinh ngày 15/10/2006 có tình cảm nam nữ với nhau. Trong khoảng thời gian trên thì bị cáo Ng và L đã quan hệ tình dục với nhau 06 (sáu) lần tại căn tin bỏ hoang trong khu vực Thiền Viện Trúc Lâm thuộc ấp Khoán Tiều, xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Cụ thể các lần quan hệ tình dục như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 17/02/2021, Ng hẹn gặp bị hại tại căn tin bỏ hoang thuộc khu vực Thiền Viện Trúc Lâm. Khi Ng và bị hại gặp nhau thì ngồi trên nền gạch tàu nói chuyện rồi Ng ôm hôn bị hại nhưng bị hại không phản ứng gì nên Ng dùng tay phải chạm vào vùng ngực, bộ phận sinh dục của bị hại được khoảng 05 phU thì Ng thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bị hại được khoảng 05 phU thì Ng lấy dương vật ra cho xuất tinh ngoài âm đạo của bị hại.

Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng 1 tuần, bị cáo Ng không nhớ chính xác ngày nào của tháng 02/2021, bị cáo Ng hẹn gặp bị hại tại căn tin bỏ hoang thuộc khu vực Thiền Viện Trúc Lâm. Khi gặp nhau thì hai người ngồi trên nền gạch tàu nói chuyện sau đó bị cáo Ng thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bị hại và cho xuất tinh ngoài âm đạo của bị hại.

Lần thứ ba, lần thứ tư và lần thứ năm: Vào khoảng thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 11/2021 (Bị cáo Ng và bị hại không xác định được ngày cụ thể), cũng tại căn tin bỏ hoang thuộc khu vực Thiền Viện Trúc Lâm, bị cáo Ng đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bị hại và cho xuất tinh ngoài âm đạo của bị hại.

Lần thứ sáu: Vào khoảng 08 giờ ngày 18/11/2021, bị hại tổ chức sinh nhật cho bị cáo Ng tại băng đá thuộc khu vực Thiền Viện Trúc Lâm. Sau khi sinh nhật xong, Ng thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bị hại được khoảng 05 phU thì xuất tinh bên trong âm đạo của bị hại.

Đến ngày 27/5/2022, gia đình bị hại Võ Thị Kiều L đưa L đi siêu âm kết quả L mang thai được 26 tuần và đến ngày 14/7/2022 L đã sinh con đặt tên là Võ Thị L Chi.

Bản kết luận giám định pháp y số: 4873/KL-KTHS ngày 22 tháng 10 năm 2022 của Phân viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh kết luận như sau: Trình Văn Ng và Võ Thị L Chi, sinh ngày 14/7/2022 có quan hệ huyết thống cha-con.

Trong phần xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Trình Văn Ng đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi quan hệ tình dục với bị hại như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải mô tả và truy tố.

Trong phần tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trình Văn Ng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng các điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Trình Văn Ng từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng: Không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Tại Luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bà Lục Khả T cũng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo các điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo bằng một mức án thật nghiêm khắc. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người đại diện hợp pháp không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo không phát biểu ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Trình Văn Ng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi quan hệ tình dục với bị hại Võ Thị Kiều L trong thời gian từ ngày 17/02/2021 đến ngày 18/11/2021. Lời khai nhận tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ căn cứ để kết luận được bị cáo Trình Văn Ng đã trực tiếp thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bị hại Võ Thị Kiều L làm cho bị hại có thai và đã sinh con tên Võ Thị L Chi, sinh ngày 14/7/2022. Vì vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trình Văn Ng phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo các điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không khiếu nại hay có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo Trình Văn Ng là hành vi bị pháp luật cấm. Bị cáo lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại là người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quan hệ tình dục, gây hậu quả rất nghiệm trọng làm bị hại có thai và sinh con. Hành vi của bị cáo là rất đáng lên án. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi do bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: bị cáo tự khai báo hành vi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo trước đó đã bị Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 12/12/2022. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trình Văn Ng không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định nên bị cáo Trình Văn Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Trình Văn Ng phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”

Về hình phạt:

Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145, Điều 38, các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trình Văn Ng 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà bị cáo bị xử phạt về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà bị cáo bị xử phạt về tội “Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 12/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Tổng hình phạt tù bị cáo phải chấp hành là 07 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về vật chứng: Không có nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trình Văn Ng phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Trình Văn Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Võ Thị Kiều L, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị H; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cỡ chữ