- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn.
2. Bà Nguyễn Thị Hoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
+ Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
- Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Ông Nguyễn Dương Thành – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Đinh Văn T1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn Ph, xã Ph, huyện Ph, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Khắc T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Y (đã chết); bị cáo có vợ và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không;
+ Nhân thân:
- Bản án số 64/2007/HSST ngày 16/11/2007 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
- Quyết định số 3144 ngày 20/7/2009 UBND huyện Ph (nay là huyện Ph), tỉnh Bình Phước quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng. Khi Tuyền đang chấp hành tại Trung tâm CB GDLD XH tỉnh Bình Phước thì đến ngày 6/8/2009 bỏ trốn khỏi trung tâm. Trong thời gian bỏ trốn ngày 16/12/2014 T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2015/HSST ngày 29/9/2015 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đinh Văn T bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 14/12/2022 đến ngày 22/12/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình theo Quyết định tạm giam số 14/2023/HSST - QĐTG ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Đinh Văn T2, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn D, xã Yên Th, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
3. Người làm chứng: Anh Đinh Văn Th – sinh năm 1985; (vắng mặt)
Anh Đinh Mạnh C – sinh năm 1991; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2022 tổ công tác Công an thành phố T tiến hành tuần tra bảo đảm an ninh trật tự tại khu vực Đồi Dù, thuộc tổ 1, phường Tr, thành phố T thì phát hiện một người đàn ông lạ mặt đang đứng một mình cạnh xe mô tô BKS 35B2-402.03 có biểu hiện nghi vấn nên đến yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra người đàn ông khai báo tên là Đinh Văn T1 và xuất trình 01 căn cước công dân mang tên Đinh Văn T1. Tổ công tác hỏi T1 có sử dụng ma túy không thì T1 khai nhận bản thân là người sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời T1 lấy ra từ túi quần bên phải, phía trước đang mặc 01 gói giấy bạc giao nộp cho tổ công tác và khai nhận bên trong là ma túy Heroine mới mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Đồi Dù, T1 khai gói ma túy T1 để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mở gói giấy bạc kiểm tra bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định pháp luật, đồng thời đưa T1 cùng vật chứng thu giữ về trụ sở Công an phường Tr lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng và biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Văn T1. Quá trình kiểm tra còn thu giữ của T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0372459829; 01 căn cước công dân, 01 xe mô tô BKS 35B2-402.03 và số tiền 500.000 đồng
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Đinh Văn T1 có khối lượng 0,22 gam ký hiệu M gửi đi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 18/KL-KTHS-MT ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M, có khối lượng 0,2438 gam, là ma túy, loại Heroien.
Heroine là chất ma túy thuộc danh mục IA, số thứ tự 9 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Văn T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT – VKS ngày 02 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đinh Văn T1 ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Tuyền phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 từ 22 tháng đến 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 14/12/2022.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, phần vỏ điện thoại phía dưới bị vỡ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 18/KL- KTHS – MT. Mẫu vật hoàn trả gồm: M = 0,1789 là ma túy loại Hêrôine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc kích thước (5 x 7) cm.
- 01 (một) sim Viettel số thuê bao 0372459829.
Trả lại cho bị cáo Đinh Văn T1 số tiền 500.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, anh Đinh Văn Th trình bày: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2022 anh và anh Đinh Mạnh C đang ngồi uống nước ở bên trong khu vực Đồi Dù thuộc tổ 1, phường Tr, thành phố T thì thấy lực lượng Công an thành phố T đến yêu cầu kiểm tra căn cước công dân của một người đàn ông. Do hiếu kỳ nên anh và anh C đến xem thì được lực lượng Công an mời làm chứng quá trình kiểm tra đối với người đàn ông. Lực lượng Công an có hỏi người đàn ông có sử dụng ma túy không thì người đàn ông khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy Hêrôine. Quá trình kiểm tra người đàn ông xuất trình cho lực lượng Công an một căn cước công dân mang tên Đinh Văn T1, đồng thời T1 tự nguyện lấy một gói giấy bạc ở túi quần bên phải giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận bên trong gói giấy bạc có chất bột dạng cục màu trắng là Hêrôine. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra gói giấy bạc mà T1 giao nộp sau đó tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật. Sau đó lực lượng Công an đưa T1 và vật chứng về trụ sở Công an phường Tr tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng và biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại cơ quan điều tra, lực lượng công an mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng, kiểm tra dấu vết trên thân thể của Đinh Văn T1.
Người làm chứng anh Đinh Mạnh C cũng khai nhận đã được Công an mời làm chứng việc Công an tiến hành kiểm tra, khám xét, thu giữ, niêm phong gói ma túy của bị cáo với nội dung sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định số: 18/KL-KTHS-MT ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2022, tại Đồi Dù, thuộc tổ dân phố 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Đinh Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,2438 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân, bị Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) ...;
c) Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng, nó không những đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của chính bản thân bị cáo mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố T, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân về tệ nạn xã hội nói chung và tệ nạn ma túy nói riêng. Mặt khác xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với chất ma túy. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo Đinh Văn T1 có nhân thân xấu đã bị kết án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, “Tàng trữ trái phép chất má túy” và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.
Xét tính chất hành vi phạm tội, khối lượng và loại chất ma túy mà bị cáo tàng trữ, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đinh Văn T1.
Về nguồn gốc ma túy loại Hêrôine: Đinh Văn T1 khai nhận đã liên hệ mua ma túy của một người đàn ông không quen biết theo số điện thoại 0942392538. Quá trình điều tra xác minh xác định số thuê bao 0942392538 được đăng ký thông tin chủ thuê bao là bà Trần Thị M, sinh năm 1957, trú tại xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau, tuy nhiên bà M cho biết không sử dụng số điện thoại trên và không quen biết Đinh Văn T1. Do vậy không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0942392538 đã bán ma túy cho Đinh Văn T1 ngày 14/12/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ căn cứ để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Đối với 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 18/KL- KTHS – MT. Mẫu vật hoàn trả gồm: M = 0,1789 là ma túy loại Hêrôine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc kích thước (5 x 7) cm; 01 (một) sim Viettel số thuê bao 0372459829 là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Văn T1. Quá trình điều tra xác định bị cáo T1 đã sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy cần tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Đinh Văn T1, qúa trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo Đinh văn T1 là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 thẻ căn cước công dân là giấy tờ cá nhân của T1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho T1 là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 35B2-402.03 Đinh Văn T1 sử dụng đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định xe mô tô là tài sản hợp pháp của anh Đinh Văn T2 là cháu của T1. Ngày 14/12/2022 T1 mượn xe sử dụng để đi lại, việc T1 sử dụng xe đi mua ma túy anh T2 không biết. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại xe mô tô cho anh T2 là đúng theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Căn cứ cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố:
Bị cáo Đinh Văn T1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 14 tháng 12 năm 2022
2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 354205108945202, số IMEI 2: 355755100225200, phần vỏ điện thoại phía dưới đã bị vỡ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 18/KL- KTHS – MT. Mẫu vật hoàn trả gồm: M = 0,1789 là ma túy loại Hêrôine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc kích thước (5 x 7) cm.
- 01 (một) sim Viettel số thuê bao 0372459829.
Trả lại cho bị cáo Đinh Văn T1 số tiền 500.000 đồng.
Những vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo ủy nhiệm chi ngày 05 tháng 4 năm 2023 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.
3/Về án phí:
Buộc bị cáo Đinh Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - Sở tư pháp - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND TP. Tam Điệp; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Tam Điệp - Cơ quan THAHS Công an TP. Tam Điệp; - Chi cục THADS TP. Tam Điệp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - Lưu: hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Ngọc Tú |