vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H: 22 (hai mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Hải- Lò Văn Tươi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 11/01/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tịnh

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Bùi Long Hòa.

Bà Trần Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 400/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 443/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn H, sinh năm: 1993; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Đ; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 7/12; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; Con ông Lò Văn A và bà Lò Thị X; Danh chỉ bản số 520 do Công an quận Đ lập ngày 05/10/2022; Tiền án: Ngày 05/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không; Bị bắt ngày 14/9/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam X – Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

2. Lò Văn T, sinh năm: 1989; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đ; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: tự do; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; Con ông Lò Văn T và bà Lò Thị C; Danh chỉ bản số 519 do Công an quận Đ lập ngày 05/10/2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 14/9/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam X – Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 14/9/2022, tại khu vực trước số 7 ngõ A, phường T, Đ, Hà Nội, tổ công tác Công an phường T phát hiện Lò Văn H và Lò Văn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, H đã thả 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng từ trong lòng bàn tay phải xuống đất cách chân phải của H khoảng 20cm nhưng đã bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, Cơ quan công an còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen.

Tại bản Kết luận giám định số 6547/KL-KTHS ngày 23/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (bọc ngoài bằng nilon màu trắng) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,315 gam.

Tại Cơ quan điều tra, H và T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. H và T khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/9/2022, khi H và T đang ở lán xây dựng H thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã rủ nhau đi mua ma túy về để sử dụng. H đã sử dụng số điện thoại 0787440994 gọi đến số điện thoại 0334033549 của một người phụ nữ tên là U hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine. U đồng ý bán và hẹn giao dịch tại khu vực ngõ A phường T, Đ, Hà Nội. Sau đó, H và T bắt taxi đến khu vực đầu ngõ A thì xuống xe. Tại đây, H bảo T đưa cho H 200.000 đồng để chung tiền mua ma túy. Sau đó, H bảo T đi sang ngõ bên cạnh đứng chờ còn H đi bộ vào trong ngõ để mua ma túy. Khi đi đến khu vực trước nhà số 54A, H gặp và mua của U 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra chỗ T để tìm nơi cùng nhau sử dụng. Khi H và T đi đến khu vực trước số 7 ngõ Trung Tả thì bị cơ quan công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra do lo sợ nên H đã thả gói ma túy từ trong lòng bàn tay phải xuống đất cách chân phải của H khoảng 20cm nhưng đã bị cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang.

Đối với số điện thoại 0334033549 mà H gọi điện để mua ma túy, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký số thuê bao trên là Phùng Thị C (sinh năm 1965, ĐKNK: thôn V, V, B, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra C khai không đăng ký sử dụng số điện thoại trên và không liên quan mua bán trái phép chất ma túy của H. Do đó, cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với U là người bán ma tuý cho H, quá trình điều tra xác định trên địa bàn tổ dân phố số 9 và ngõ Trung Tả, phường Thổ Quan, Đ, Hà Nội có Vũ Thị Thu (Sinh năm: 1970; HKTT: 31/21 Nguyễn Như Đổ, phường Văn Miếu, Đ, Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: 1/85 ngõ Trung Tả, phường Thổ Quan, Đ, Hà Nội). Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Vũ Thị Thu nhưng hiện Thu vắng mặt tại nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với Vũ Thị Thu để điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 395/CT-VKSĐĐ ngày 29/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ giữ nguyên Cáo trạng, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 18 đến 24 tháng tù. Ap dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn phạt tiền cho các bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Về xử lý tang vật: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án, kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 14/9/2022, tại khu vực trước số 7 ngõ A, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội, các bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi cất giấu trong người 0,315 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng.

Hành vi giấu giữ trong người 0,315 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng của các bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy đang là hiểm họa chung, cũng là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, tác động rất xấu đến trật tự xã hội. Các bị cáo biết rõ hậu quả rất nguy hiểm do ma túy gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi cũng như nhân thân của các bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Bị cáo H là người đề xuất và trực tiếp gọi điện liên hệ mua ma túy và có nhân thân có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo Hair phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo T.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với số ma túy là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo H, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về đối tượng U bán ma túy cho các bị cáo, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Vũ Thị U nhưng hiện U vắng mặt tại nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với Vũ Thị U để điều tra, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Đ tại phiên tòa về tội danh, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với các bị cáo cơ bản là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H và Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn H.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn T.

- Điều 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H: 22 (hai mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2022.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T: 13 (mƣời ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2022.

Miễn phạt tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của giám định viên Phạm Tuấn N, cán bộ niêm phong Nguyễn Bảo N, người chứng kiến Nguyễn Đăng S, đối tượng Lò Văn H, điểm chỉ ngón trỏ phải đối tượng Lò Văn T cùng hình dấu Công an phường T.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu đen bị vỡ màn hình đã qua sử dụng, không kiểm tra dữ liệu, không rõ chất lượng.

(Vật chứng trên hiện đang lưu tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đ, theo biên bản giao nhận vật chứng số 96 ngày 22/12/2022) .

Bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ