vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 09/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn P - phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt Lê Văn P – 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 BLDS; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn P - phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày 09 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông: Nguyễn Hoàng Minh.

2/ Ông: Lê Văn Dài.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong - Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lê Văn P (tên gọi khác: không), sinh năm: 20xx tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Việt H, sinh năm: 19xx và con bà Phạm Diễm Th, sinh năm: 19xx; Anh chị em có 03 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: không; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ: không; tạm giam: không; bị cáo đang trú tại: ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Đặng Hoàng Q, sinh năm: 2001(chết).

Đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Phạm Kim L, sinh năm: 19xx(mẹ ruột bị hại), có mặt.

2. Đặng Văn Th1, sinh năm: 19xx(Cha ruột bị hại), có mặt.

Cùng trú tại: ấp 3, xã 4, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Võ Văn Th2, sinh năm 19xx; Trú tại: ấp 1, xã 2, huyện Thanh bình, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.

2. Phạm Diễm Th, sinh năm 19xx; Trú tại: ấp 1, xã 2, huyện Thanh bình, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Đặng Giàu N, sinh năm: 20xx. Có mặt.

2. Đặng Văn T, sinh năm: 19xx. Có mặt.

3. Nguyễn Quí K, sinh năm: 19xx. Có đơn xin vắng mặt.

4. Nguyễn Thị Bích Th3, sinh năm: 19xx. Vắng mặt.

5. Nguyễn Dương L, sinh năm: 19xx. Có mặt.

6. Lê Việt H, sinh năm: 19xx. Có đơn xin vắng mặt.

7. Nguyễn Phú T1, sinh năm: 20xx. Có mặt.

8. Phạm Văn S, sinh năm: 19xx.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 02/8/2022 Lê Văn P có giấy phép lái xe hạng A1, sau khi uống bia tại nhà ở ấp 1, xã 2 đã điều khiển xe mô tô biển số 66B1-4xx.xx dung tích 109cm3 chở phía sau là Võ Văn Th2 tham gia giao thông trên lộ nông thôn hướng từ Tân Thạnh đi thị trấn Thanh Bình, khi đi được khoảng 2km P cho xe qua cầu ván (cầu ông Nhã) rồi rẽ phải để ra thị trấn, khi chạy cách cua quẹo 20m P bật đèn tín hiệu trái và cho xe chạy bên lề trái đường để rẽ vào kênh bà Quẹo hướng ra Quốc lộ 30. Quá trình đang tham gia đến ấp 1, xã 2 thì va chạm vào xe của Đặng Hoàng Q đang điều khiển theo hướng ngược lại nên đã gây ra vụ tai nạn làm cả 03 người trên 02 xe mô tô đều bị thương tích trong đó Th2 bị thương nhẹ xay xát ngoài da, còn P và Q thì được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tề huyện Thanh Bình sau đó được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp cấp cứu và điều trị. Đến ngày 05/8/2022 thì Đặng Hoàng Q tử vong. Xe mô tô của P và Q bị hư hỏng nhẹ không đáng kể.

Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 233/TTh-TTPY ngày 12/8/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, kết luận nguyên nhân tử vong của Đặng Hoàng Q, là do chấn thương sọ não nặng + nhồi máu cơ tim cấp/ Tai nạn giao thông.

Hiện trường vụ án là lộ nông thôn thuộc ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nơi xảy ra là đoạn đường thẳng, tầm nhìn thông thoáng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường trãi bê tông bằng phẳng, đường 02 chiều không có vạch kẻ tim đường, không có biển báo hiệu đường bộ. Chọn mép đường bên phải hướng thị trấn Thanh Bình đi Tân Thạnh làm lề chuẩn (hướng đi của Đặng Hoàng Q). Tại hiện trường ghi nhận 02 vết cày do xe mô tô biển số 66B1-4xx.xx gây ra. Xác định vùng va chạm nằm ở phần đường bên phải của hướng thị trấn Thanh Bình đi Tân Thạnh, vùng va chạm có đường kín 0,24m, tâm của vùng va chạm cách mép đường 0,12m, kết quả khám nghiệm hiện trường cho thấy Lê Văn P điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường theo quy định vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Theo kết quả kiểm tra nồng độ cồn thì khi gây tai nạn Định lượng Ethanol trong máu của Lê Văn P là 67,48mg/100ml máu và của Đặng Hoàng Q là 43,92mg/100ml máu.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTB ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Lê Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS. Tại phiên tòa Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng Truy tố, vì có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn P có giấy phép lái xe A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 66B1- 4xx.xx chở bạn tên Võ Văn Th2 lưu thông trên lộ nông thôn thuộc ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp thì lấn trái va chạm vào xe mô tô của Đặng Hoàng Q đang lưu thông chiều ngược lại gây ra vụ tai nạn giao thông làm cho Đặng Hoàng Q bị chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong, lỗi chính gây ra tai nạn là do Lê Văn P đi không đúng phần đường. Hành vi của bị cáo Lê Văn P đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 nên hành vi của Lê Văn P đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đồng thời bị cáo P khi điều khiển xe gây tai nạn trong điều kiện có sử dụng rượu bia có nồng độ là 67,48mg/100ml máu, đây là tình tiết định khung ở điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả tác hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn P từ 03 năm đến 04 năm tù; Phạt bổ sung không áp dụng đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự công nhận sự thỏa thuận bị cáo tiếp tục bồi thường bà Phạm Kim L và ông Đặng Văn Th1 60.000.000đ. Về xử lý vật chứng đã giải quyết xong không xem xét.

Trong phần tranh luận bị cáo Lê Văn P thừa nhận đã phạm tội nên không tranh luận với Kiểm sát viên.

Nói lời sau cùng bị cáo Lê Văn P không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Bị cáo Lê Văn P thừa nhận vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 02/8/2022 sau khi đã uống bia tại nhà, bị cáo đã điều khiển xe mô tô biển số 66B1-4xx.xx chở phía sau là Võ Văn Th2 tham gia giao thông trên lộ nông thôn hướng từ Tân Thạnh đi thị trấn Thanh Bình, khi qua cầu ông Nhã, bị cáo rẽ phải để ra thị trấn, khi chạy được 20m P bật đèn tín hiệu trái và cho xe chạy bên lề trái đường để rẽ vào kênh bà Quẹo thuộc ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình thì va chạm vào xe của Đặng Hoàng Q đang điều khiển theo hướng ngược lại nên đã gây ra vụ tai nạn làm cả 03 người trên 02 xe mô tô đều ngã xuống đường. Hậu quả Đặng Hoàng Q bị chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong. Bị cáo là người có lỗi chính, khi tham gia giao thông đi không đúng làn đường. Lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ phù hợp với lời khai của người làm chứng, hiện trường vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị các điều khiển xe trong tình trạng trong người có rượu bia là 67,48mg/100ml máu đây là tình tiết định khung hình phạt.

Hành vi của bị cáo Lê Văn P đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại rượu bia nên có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” phạm vào điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS.

Tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự có quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm vi định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b)…………………………………

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a)………………………………..

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn P là rất nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện, kỹ cương pháp luật bị xâm hại. Chúng ta biết trong thời gian vừa qua Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương và chính sách pháp luật để kiềm chế tai nạn giao thông, nhưng vì không tuân thủ luật giao thông đường bộ khi lấn sang phần đường bên trái, thiếu chú ý quan sát, bị cáo đã gây ra vụ tai nạn làm chết một người. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, cần phải có mức hình phạt nhất định để răng đe giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích cảnh tỉnh những ai xem thường luật pháp và nhắc nhỡ mọi người khi tham gia giao thông phải đảm bảo đúng quy định luật Giao thông đường bộ, tôn trọng nghiêm các nguyên tắc mà pháp luật đã quy định đi đúng phần đường làn đường giành cho mình, không được sử dụng rượu bia khi điều khiển xe, đảm bảo tuyệt đối an toàn khi tham gia giao thông để hạn chế tối đa tai nạn giao thông có thể xảy ra như trong vụ án này.

Tuy nhiên, quá trình xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nhưng bị cáo đã tích cực khắc phục được một phần hậu quả là 40.000.000đ, bản thân bị cáo là người tốt chưa có tiền án tiền sự, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên giảm nhẹt hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đồng thời phù hợp với phân tích, nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có liên quan và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường chi phí cứu chữa, điều trị cho nạn nhân, mai táng phí, tổn thất tinh thần tổng số là 100.000.000đ bị cáo đã bồi thường được 40.000.000đ còn lại 60.000.000đ cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường bà Phạm Kim L và ông Đặng Văn Th1 là người đại diện hợp pháp của Đặng Hoàng Q theo Điều 591 BLDS.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho các chủ sở hữu theo đúng với Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không xem xét. Riêng đối với khẩu súng thu giữ trên xe của Đặng Hoàng Q cơ quan điều tra đã chuyển giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Lê Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn P - phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

1. Xử phạt Lê Văn P – 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 BLDS;

Buộc bị cáo Lê Văn P bồi thường cho Phạm Kim L và ông Đặng Văn Th1 là đại diện hợp pháp người bị hại, chi phí cứu chữa, điều trị cho nạn nhân, mai táng phí, tổn thất tinh thần tổng số là 100.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 40.000.000đ nên phải bồi thường tiếp số tiền 60.000.000đ.

Đối với tiền bồi thường kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Đã xử lý xong.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng;

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án 09/5/2023. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ