- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH ---------=--------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HS-ST Ngày: 27 - 03 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Kim Thành
Bà Trịnh Hồng Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Giang Thị Mến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 27/03/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2023/TLST-HS ngày 15/02/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 15/03/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên Lê Đức L, sinh năm 1976 tại Ninh Bình; giới tính: nam; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá:7/12 nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Văn Tởi và con bà Nguyễn Thị Xinh; vợ Vũ Thị Thúy H và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;
Lịch sử bản thân:
Tại Bản án số 19/HSST ngày 04/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xử phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 16/7/2018 chấp hành xong án phí và ngày 20/5/2019 chấp hành xong hình phạt.
Bị caó bị tạm giữ từ ngày 28/12/2022 đến ngày 05/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1961 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1956 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Đức L sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 28/12/2022 L đi nhờ xe của người đi đường không quen biết từ xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình đến địa phận xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây L gặp và mua của một người nam thanh niên không quen biết 02gói Heroine với giá 400.000đồng. Mua được Heroine, L cất giấu vào túi quần phía sau bên trái rồi đi nhờ xe của người đi đường không quen biết về khu vực đê sông Hoàng Long thuộc địa phận xã T rồi xuống xe đi bộ về nhà, đến hồi 11giờ 50 phút khi Lai đi đến trục đường thôn T thì bị Tổ công tác công an xã Trường Yên phối hợp với Đội điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hoa Lư yêu cầu kiểm tra hành chính, Lê Đức L đã tự giác lấy 02 gói nhỏ từ túi quần phía sau bên trái ra giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đây là 02 gói Heroine mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ niêm phong 02 gói nhỏ có đặc điểm được gói bên ngoài là giấy bạc màu trắng, bên trong cả hai gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng và đưa Lê Đức L cùng vật chứng về trụ sở Công an xã Trường Yên lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng bên trong 02 gói nhỏ thu giữ của Lê Đức L ký hiệu M3 và M4 gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 70/KLGĐ-PC09-MT ngày 05/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M3 có khối lượng 0,1516 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,1627gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M3, M4 là 0,3143 gam.
- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M3, M4 đều là ma túy, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra Lê Đức L đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSHL ngày 14/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo Lê Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
[1]. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Đức L từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ 28/12/2022.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
[2]. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì thư trên phong mặt có ghi vật chứng còn lại gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 02 mảnh giấy bạc mầu trắng thu giữ cỉa Lê Đức Lai ngày 28/12/2022 tại thôn Trường Xuân, xã Trường yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- 01 Phong bì thư trên phong mặt có ghi: số 70/KL-KTHS-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Lê Đức Lai, sinh năm 1976, cất giấu trái phép chất ma túy, xẩy ra ngày 28/12/2022 tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M3= 0,0977gam, M4= 0,1140 gam đề là ma túy loại heroin., toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư.
Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức L đã khai nhận như sau: Bị cáo là người nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 28/12/2022 bị cáo nhờ xe từ nhà đến xã G, huyện G mua của một người đàn ông không quen biết 02gói Heroine có khối lượng 0,3143 gam với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy bị cáo dấu vào túi quần phía sau bên trái rồi về nhà, đến khoảng 11 giờ 50 phút bị cáo về đến trục đường thôn T, xã T, Tổ công tác Công an huyện Hoa Lư phối hợp với Công an xã Trường Yên, huyện Hoa Lư phát hiện và bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; với bản kết luận giám định số 70/KLGĐ-PC09-MT ngày 05/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo có hành vi cất dấu 02 gói Heroine có khối lượng 0,3143 gam để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a,................
b, ...............
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d, ...........................
2...
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Đức L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị Nhà nước cấm. Bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp…Nhận thức được hành vi mua bán ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị, vẫn cố ý thực hiện điều đó, chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
*Về tình tiết tăng nặng: không có
*Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Lê Đức L quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình khi bị yêu cầu kiểm tra đã tự giác giao nộp ma túy và bố, mẹ đẻ Lê Đức L được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
. Về hình phạt: Từ sự phân tích về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa nên cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số Heroine, Lê Đức L khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực xã Gia Lạc, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình nên không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
- Đối với người cho Lai đi nhờ xe để đi mua ma túy, L không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, do vậy không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì thư trên phong mặt có ghi vật chứng còn lại gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 02 mảnh giấy bạc mầu trắng thu giữ của Lê Đức Lai ngày 28/12/2022 tại thôn Trường Xuân, xã Trường yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- 01 Phong bì thư trên phong mặt có ghi: số 70/KL-KTHS-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Lê Đức L, sinh năm 1976, cất giấu trái phép chất ma túy, xẩy ra ngày 28/12/2022 tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M3= 0,0977gam, M4= 0,1140 gam đề là ma túy loại heroin., toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2022 .
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì dán kín mép niên phong còn nguyên vẹn, có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và 03 dấu hình tròn của Cơ quan CSĐT công an huyện Hoa Lư xác nhận nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Trên phong mặt có ghi vật chứng còn lại gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 02 mảnh giấy bạc mầu trắng thu giữ cỉa Lê Đức L ngày 28/12/2022 tại thôn Trường Xuân, xã Trường yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- 01 Phong bì dán kín mép niên phong còn nguyên vẹn, có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và 03 dấu hình tròn của Cơ quan CSĐT công an huyện Hoa Lư xác nhận nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. . Trên phong mặt có ghi: số 70/KL-KTHS-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Lê Đức L, sinh năm 1976, cất giấu trái phép chất ma túy, xẩy ra ngày 28/12/2022 tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M3= 0,0977gam, M4= 0,1140 gam đề là ma túy loại heroin, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
( Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao vật chứng giữa công an huyện Hoa Lư và chi cục thi hành án huyện Hoa Lư ngày 15/ 02/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Đức L phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - VKSND huyện HL; - THADS huyện HL; - CA huyện HL; - Những người TGTT; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký ĐÀO THỊ HUỆ |