vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 13/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bùi Quang T 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Quang T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 13/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam

Các hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

2. Bà Nguyễn Thị Chấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G - thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G - thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thoa - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 13 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 250/2022/TLST- HS ngày 14 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Quang T (tên gọi khác: Không); sinh năm 2000; tại: Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H1, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Thế L, sinh năm 1963 và con bà: Đào Thị T1, sinh năm 1966; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ bốn; vợ, con: Chưa có; Danh chỉ bản số 0440 lập ngày 12/10/2022, tại Công an huyện G, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã ngày 10/10/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 22/10/2021, Nguyễn Khắc H2 đang ở tòa S203 - khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội thì nhắn tin, gọi điện từ tài khoản facebook “Nguyen K. H” cho Bùi Quang T qua ứng dụng Messenger tài khoản facebook “Bùi T” để hỏi mua 01 chỉ ma túy “ke” và 01 viên ma túy “kẹo” với tổng số tiền là 3.300.000 đồng và hẹn giao ma túy tại khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội. Cùng khoảng 22 giờ ngày 22/10/2021, khi Trần A1 đang ở khu vực Q, L1, H2 Yên thì Bùi Quang T sử dụng tài khoản facebook “Bùi T” nhắn tin qua ứng dụng Messenger với facebook “Trần A1” với nội dung nhắn Trần A1 ra ngã tư Q nhận ma túy gồm 01 chỉ ma túy “ke” và 01 viên ma túy “kẹo” để bán cho khách có số điện thoại 0835821234 tại Khu đô thị V1, G, Hà Nội với giá 3.300.000 đồng và T sẽ trả công A1 200.000 đồng, A1 đồng ý và điều khiển xe máy BKS 29S9-34.35 đến ngã tư Q, L1, Hưng Yên gặp T và nhận ma tuý do T đưa, A1 cất giấu ma túy trong dép dưới lòng bàn chân phải. Sau đó A1 tiếp tục điều khiển xe máy BKS 29S9-34.35 đi đến trước sảnh tòa nhà S102 Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội và dùng số điện thoại 0936582120 gọi vào số điện thoại 0835021234 của Nguyễn Khắc H2 để giao ma túy; nhưng H2 không nghe máy. Một lát sau, H2 dùng số điện thoại 0835021234 gọi lại vào số 0936582*** thì A1 nói “Em ở chỗ anh T”. Sau đó H2 và A1 hẹn giao ma túy tại trước sảnh tòa nhà S102 Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội. Khi A1 đang đứng chờ để đưa ma túy cho H2 thì bị cơ quan Công an đến kiểm tra. Quá trình kiểm tra, A1 tự nguyện giao nộp gói ma túy có đặc điểm là 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có: 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (4x6)cm chứa 01 viên nén màu xanh và 01 túi nilong màu trắng kích thước (4x6)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, A1 khai nhận đó là ma túy của T đưa để bán cho H2. Sau đó Cơ quan công an đã lập biên bản, đưa A1 và Nguyễn Khắc H2 về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ của Trần A1: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có: 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (4x6)cm chứa 01 viên nén màu xanh và 01 túi nilong màu trắng kích thước (4x6)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động IphoneX màu trắng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0936582***, 01 xe máy Honda Wave màu trắng, cam BKS 29S9-3435, số khung 119034, số máy 118946, đã qua sử dụng.

Tạm giữ của Nguyễn Khắc H2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max màu vàng, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0835021234; 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29Y3-64259, số khung: 019816, số máy 1067377, xe đã qua sử dụng, màu đen.

Tại bản Kết luận giám định số 7664/KLGĐ-PC09, ngày 31/10/2021, của phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa 01 túi nilong có: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam,; 01 viên nén màu xanh là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam.

Ngoài ra, Nguyễn Khắc H2 khai nhận mua ma túy của T nhiều lần: Ngày 14/10/2021 H2 mua 02 chỉ ma túy “ke” với giá 4.000.000 đồng và đã sử dụng hết; sáng ngày 22/10/2021, H2 mua 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng nhưng bị rơi không rõ ở đâu và tối ngày 22/10/2021, H2 liên lạc với T mua ma túy nhưng chưa kịp mua thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.

Ngoài ra, Hoàng Duy K và Vũ Viết H3 khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 11/10/2021, Hoàng Duy K – sinh 1996 đi xe máy nhãn hiệu Honda BKS 29V1- 70300 từ nhà ở Ba Vì đến nhà của Vũ Viết H3 tại P23.12 $1.03 KĐT V1 để ăn uống. H3 gọi điện cho Vũ Thị Minh C sinh 2000, HKTT: Đ, TP Thái Bình, Thái Bình đến nhà chơi và bảo Châu rủ thêm bạn là Phạm Thị Minh G1 – sinh 2000, HKTT: Đ, TP Thái Bình, Thái Bình và Vũ Thị P sinh 1997, HKTT: T2, Thái Thụy, Thái Bình cùng đến. C đồng ý. Trong khi chờ C, G và P đến, K rủ H3 đi mua ma túy về sử dụng, H3 đồng ý. K sử dụng số điện thoại 0835885*** gọi điện vào số điện thoại 0388155*** của Bùi Quang T hỏi mua 04 viên ma túy MDMA “gọi là ma túy kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 chỉ ma túy Ketamine “gọi là ma túy ke” với giá 2.300.000 đồng và hẹn đến trước cửa cổng an ninh số 4 của KĐT V1 gần cầu vượt P1 để lấy ma túy. T đồng ý và hẹn giao ma túy tại trước cửa cổng an ninh số 4 của KĐT V1. Sau đó T nhắn tin số tài khoản ngân hàng MBBank số 6938666661*** tên BUI QUANG T để K chuyển số tiền 3.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng. Sau khi chuyển số tiền 3.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng cho T, K đã xóa tin nhắn. T dùng số điện thoại 0388155*** gọi vào số điện thoại 0835885*** của K để bảo K ra lấy ma túy ở trước cửa cổng an ninh số 4 của KĐT V1. Sau đó K điều khiển xe máy chở Vũ Viết H3 đến trước cửa cổng an ninh số 4 của KĐT Vinhome Ocean Park chờ nhận ma túy. Khoảng 5 phút sau thì một nam thanh niên bịt khẩu trang, không rõ nhân thân đến đưa cho H3 một túi ni lông chứa 04 viên ma túy Kẹo và túi ni lông chứa 01 chỉ ma túy Ke. Sau khi mua được ma túy, K điều khiển xe máy chở H3 về đến hầm đỗ xe của tòa nhà S1.03, H3 đưa số ma túy vừa mua được cho K cầm và cùng lên phòng tiếp tục uống rượu. K cất số ma túy trên ở tủ bếp. Khoảng 0 giờ ngày 12/10/2021, khi C, G và P đến Sảnh S1.03 KĐT V1 thì K xuống đón và đưa lên phòng ngồi ăn cùng H3 và K. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/10/2021, K rủ mọi người vào phòng ngủ sử dụng ma túy rồi lấy số ma túy cất ở tủ bếp đưa cho H3. H3 bẻ viên ma túy Kẹo ra thành các mảnh nhỏ đưa cho K, C, G sử dụng bằng cách uống cùng nước ngọt. Riêng P cầm ma túy Kẹo nhưng không sử dụng mà đi vào nhà vệ sinh vứt ở bồn cầu sau đó nằm ngủ tại phòng khách. Số ma túy Kẹo còn lại H3 cất vào túi ni lông dùng băng dính dán ở dưới mặt bàn cạnh giường trong phòng ngủ. H3 vào phòng ngủ bật nhạc để K, C, G nghe. Sau đó H3 cầm ma túy Ketamine đi ra phòng khách cho vào đĩa, dùng thẻ nhựa màu đen bên trên có chữ GUCCI và nhiều chữ, số nhỏ để sào “Ke”, chia ma túy trong đĩa ra thành từng đoạn nhỏ, lấy 2 tờ mệnh giá 10.000 đồng cuốn tròn lại thành 2 ống hút mang vào phòng ngủ cho mọi người sử dụng. Khoảng 04 giờ ngày 12/10/2021 khi K, H3, C, G đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ của Vũ Viết H3: 01 đèn laze màu trắng đã qua sử dụng; 01 đèn laze màu đen đã qua sử dụng; 01 bộ loa máy tính màu đen đã qua sử dụng gồm 01 loa to và 02 loa nhỏ; 01ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, lắp sim liên lạc 0846599*** và 0973226***; 01 đĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có tinh thể màu trắng được thu giữ toàn bộ vào 01 túi nilon màu trắng kích thước (4x10)cm; 02 ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ có dính tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa màu đen bên trên có chữ GUCCI và nhiều chữ, số nhỏ có dinh tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (4x8)cm bên trong chứa 01 mảnh viên nén màu xanh có mảnh băng dính ở ngoài túi.

Vật chứng thu giữ của Hoàng Duy K: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0835885***.

Tại bản kết luận giám định số 7493/KLGĐ-PC09 ngày 20/10/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: - 01 mảnh viên nén màu xanh bên trong 1 túi ni lông là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,159 gam; - Tinh thể màu trắng bên trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng (được thu vào 01 túi ni lông) là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,056 gam; - 02 ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 thẻ bằng nhựa màu đen đều có dính ma túy loại Ketamine.

Vật chứng Cơ quan Công an huyện G, thành phố Hà Nội đã thu giữ của Bùi Quang T: 01 dao nhọn dài 30cm, chuôi gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng sắt dài 20 cm, bản rộng nhất 04cm.

Tại Cơ quan điều tra, Công an huyện G - Bùi Quang T khai nhận: Bản thân Bùi Quang T bắt đầu có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 8/2021 đến tháng 10/2022. Nguồn gốc số ma túy mà T bán là mua ma túy của một người đàn ông tên Sơn tại TT. Q – huyện G - Hà Nội hoặc Đ1 - L1 - Hưng Yên. T thường mua ma túy “kẹo” và ma tuy “ke” với số tiền 1.500.000₫ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) rồi bán lại cho khách mỗi lần bán được thu lời khoảng 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Khách mua ma túy liên lạc trực tiếp với T qua số điện thoại 0388155*** hoặc qua Facebook có tên “Bùi T”. Khách mua ma túy thường giao nhận ở nhiều địa điểm khác nhau, hình thức thanh toán chuyển khoản số tài khoản 6938666661*** hoặc tiền mặt. Ngoài A1 là người đi giao ma túy cho T mỗi lần sẽ được tiền công từ 200.000đ - 300.000đ thì T còn có người em xã hội (T không nhớ rõ tên tuổi, địa chỉ) đi giao ma túy cho T. Ngày 22/10/2021, Nguyễn Khắc H2 có hỏi mua của T ma túy “ke” và ma túy “kẹo” thì T mua ma túy đã giao cho A1 để mang lên cho H2 ngoài ra trước đó T đã tổng cộng bán cho H2 2 lần. Cụ thể: Ngày 14/10/2021 T bán cho H2 02 “chỉ” ma túy “ke” có giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), H2 đã chuyển khoản cho T qua ngân hàng MBBank. Rạng sáng ngày 22/10/2021, T bán cho H2 04 (Bốn) viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), H2 đã chuyển khoản cho T. Tiếp tục đến tối ngày 22/10/2021 T đưa ma túy cho A1 đi bán cho H2 nhưng chưa kịp bán thì A1 bị bắt giữ. Sau khi biết A1 bị bắt thì T đã bỏ trốn. Ngày 22/4/2022 tại khu vực khu A2 – Q1 - L1 - Hưng Yên khi lực lượng Công an bắt giữ T đã bỏ chạy. Khoảng đầu tháng 10/2022, T ở tại Căn hộ 0216 tòa nhà S205 - KĐT V1 - Đ - G - Hà Nội. Ngày 10/10/2022 khi T đang ở căn hộ thì phát hiện lực lượng Công an truy bắt mình cho nên đã cầm dao bỏ chạy. Khi bỏ chạy đến tòa nhà S219 - KĐT V1 - Đ - G - Hà Nội thì bị bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, Công an huyện G từ ngày 10/10/2022 đến ngày 23/10/2022, bị cáo Bùi Quang T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội xảy ra ngày 14/10/2021, rạng sáng ngày 22/10/2021 và tối ngày 22/10/2021. NH2 đến ngày 24/10/2022, bị cáo thay đổi lời khai là không có hành vi bán ma túy cho H2 vào ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021.

Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 251/CT-VKSGL, ngày 12/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Quang T ra trước Tòa với tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay: Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Bùi Quang T đã thừa nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận ngày 22/10/2021, tại khu vực thị trấn Q, L1, H2 Yên, bị cáo T đã có hành vi đưa cho Trần A1 ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam, mục đích bán cho Nguyễn Khắc H2 với giá 3.500.000 đồng để kiếm lợi, nH2 Trần A1 chưa kịp đưa ma túy cho H2 thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Tại phiên tòa bị cáo khai rõ lý do tại Cơ quan điều tra, Công an huyện G ngày 24/10/2022, bị cáo thay đổi lời khai là không có hành vi bán ma túy cho H2 vào ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021 là do bị cáo do hoang mang nên thay đổi lời khai và bị cáo thừa nhận hành vi vào ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021, tại Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội bị cáo T đã bán 02 chỉ ma túy “ke” với giá 4.000.000 đồng và 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng cho Nguyễn Khắc H2 để kiếm lời.

Ngày 11/10/2021, bị cáo T còn có hành vi bán 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 chỉ ma túy “ke” với giá 2.300.000 đồng, tổng cộng là 3.500.000 đồng cho Hoàng Duy K tại khu đô thị Vinhomes Ocean Park. Bị cáo Thừa nhận toàn bộ những hành vi trên của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 251/CT-VKSGL, ngày 12/12/2022. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quang T mức án phạt tù từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 10/10/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Đối với 01 con dao nhọn dài 30cm, chuôi gỗ dài 10 cm, lưỡi dao bằng sắt dài 20 cm, bản rộng nhất 04 cm. Cơ quan điều tra, Công an huyện G đã ra quyết định trưng cầu giám định nhưng đến nay chưa có kết quả giám định nên Cơ quan điều tra, Công an huyện G đã tách tài liệu liên quan đến vật chứng này để tiếp tục điều tra làm rõ.

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 8.700.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào Ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo T sau khi nghe quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận toàn bộ những hành vi ngày 22/10/2021, tại khu vực thị trấn Q, L1, H2 Yên bị cáo T đưa cho Trần A1 ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam, mục đích bán cho Nguyễn Khắc H2 với giá 3.500.000 đồng để kiếm lợi. Ngoài ra, ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021, tại Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội bị cáo Bùi Quang T đã bán 02 chỉ ma túy “ke” với giá 4.000.000 đồng và 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng cho Nguyễn Khắc H2 để kiếm lời. Ngày 11/10/2021, Bùi Quang T còn có hành vi bán 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 chỉ ma túy “ke” với giá 2.300.000 đồng, tổng cộng là 3.500.000 đồng cho Hoàng Duy K tại khu đô thị V1. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Quang T: Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định và các biên bản, tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 22/10/2021, tại khu vực thị trấn Q, L1, H2 Yên bị cáo T đưa cho Trần A1 ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam, mục đích bán cho Nguyễn Khắc H2 với giá 3.500.000 đồng để kiếm lợi. Ngoài ra, ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021, tại Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội bị cáo Bùi Quang T đã bán 02 chỉ ma túy “ke” với giá 4.000.000 đồng và 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng cho Nguyễn Khắc H2 để kiếm lời. Ngày 11/10/2021, Bùi Quang T còn có hành vi bán 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 chỉ ma túy “ke” với giá 2.300.000 đồng, tổng cộng là 3.500.000 đồng cho Hoàng Duy K tại khu đô thị Vinhomes Ocean Park.

. Vật chứng Cơ quan Công an huyện G, thành phố Hà Nội đã thu giữ của Bùi Quang T: 01 dao nhọn dài 30cm, chuôi gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng sắt dài 20 cm, bản rộng nhất 04cm.

. Tại bản Kết luận giám định số 7664/KLGĐ-PC09, ngày 31/10/2021, của phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: - 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa 01 túi nilong có: - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam; - 01 viên nén màu xanh là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam.

Tại bản kết luận giám định số 7493/KLGĐ-PC09 ngày 20/10/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: - 01 mảnh viên nén màu xanh bên trong 1 túi nilong là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,159 gam; - Tinh thể màu trắng bên trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng (được thu vào 01 túi nilong) là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,056 gam.

. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: ngày 22/10/2021, tại khu vực thị trấn Q, L1, Hưng Yên, bị cáo T đã có hành vi đưa cho Trần A1 ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam, mục đích bán cho Nguyễn Khắc H2 với giá 3.500.000 đồng để kiếm lợi, nhưng Trần A1 chưa kịp đưa ma túy cho H2 thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Tại phiên tòa bị cáo khai rõ lý do tại Cơ quan điều tra, Công an huyện G ngày 24/10/2022, bị cáo thay đổi lời khai là không có hành vi bán ma túy cho H2 vào ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021 là do bị cáo do hoang mang nên thay đổi lời khai và bị cáo thừa nhận hành vi vào ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021, tại Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội bị cáo T đã bán 02 chỉ ma túy “ke” với giá 4.000.000 đồng và 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng cho Nguyễn Khắc H2 để kiếm lời. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiển sát: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, truy tố bị cáo Bùi Quang T ra trước Tòa án theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

. Xét tính chất vụ án: Đánh giá tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, trị an xã hội là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo Bùi Quang T là người trưởng thành có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng ngày 22/10/2021, tại khu vực thị trấn Q, L1, H2 Yên bị cáo T đã có hành vi đưa cho Trần A1 ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,465 gam và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,451 gam, mục đích bán cho Nguyễn Khắc H2 với giá 3.500.000 đồng để kiếm lợi. Ngoài ra, ngày 14/10/2021 và rạng sáng ngày 22/10/2021, tại Khu đô thị V1, xã Đ, G, Hà Nội bị cáo Bùi Quang T đã bán 02 chỉ ma túy “ke” với giá 4.000.000 đồng và 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng cho Nguyễn Khắc H2 để kiếm lời. Ngày 11/10/2021, Bùi Quang T còn có hành vi bán 4 viên ma túy “kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 chỉ ma túy “ke” với giá 2.300.000 đồng, tổng cộng là 3.500.000 đồng cho Hoàng Duy K tại khu đô thị V1. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh và giành cho các bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình để Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra kết thúc vụ án sớm. Vì vậy, Bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung, năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về Áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao nhọn dài 30cm, chuôi gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng sắt dài 20 cm, bản rộng nhất 04cm thu giữ của bị cáo Bùi Quang T, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định tuy nhiên đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan đến con dao để tiếp tục điều tra, làm rõ nên Hội đồng xét xử không phải xem xét, giải quyết.

. Các vấn đề khác trong vụ án:

- Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Bùi Quang T, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý;

- Đối với Trần A1, ngày 30/6/2022, Tòa án nhân dân huyện G đã xét xử Trần A1 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251 BLHS (bản án đã có hiệu lực pháp luật);

- Đối với Hoàng Duy K và Vũ Viết H3, ngày 14/6/2022, Tòa án nhân dân huyện G đã xét xử Hoàng Duy K 07 năm tù và Vũ Viết H3 06 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS (bản án đã có hiệu lực pháp luật);

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng lao động tự do thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt: Bùi Quang T 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Quang T.

Buộc bị cáo Bùi Quang T phải truy nộp số tiền 8.700.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào Ngân sách Nhà Nước.

3. Vật xử lý vật chứng: Không phải xem xét, giải quyết.

4. Áp dụng Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Bùi Quang T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ