- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Bảo Khang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Bảo K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2023/HS-ST Ngày: 23/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương.
- Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trương Văn Săng.
2. Ông Đặng Hoàng Mích.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Đinh Bảo Quốc – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
ĐẶNG BẢO K, sinh ngày: 11/11/2002 tại tỉnh Bến Tre.
Nơi cư trú: Ấp B, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng Văn L và bà Trần Thị L. Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/02/2023 cho đến nay (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 05 phút ngày 30/01/2023, tại đường liên ấp thuộc ấp L, xã Đ, huyện B, tỉnh T; Đồn Biên phòng Đ bắt quả tang Đặng Bảo K, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2002, nơi cư trú: Ấp B, thị trấn Đ đang có hành vi tàng trữ 01 gói nylon màu trắng được hàn kín 03 phía, phía còn lại là rãnh khép viền màu xanh dương, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- Vật chứng thu giữ gồm có:
+ 01 gói nylon màu trắng được hàn kín 03 phía, phía còn lại là rãnh khép viền màu xanh dương, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy có kích thước 2,8cm x 2,2cm được gói trong hai thẻ cào VIETTEL mệnh giá 50.000 đồng (đã qua sử dụng).
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SATRIA màu đen, biển kiểm soát 71C1-668.09.
Đặng Bảo K khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, K dùng điện thoại gọi cho 01 người không rõ lai lịch tại xã B hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá và được người này đồng ý. K điều khiển xe mô tô biển số 71C1-668.09 đi đến khu vực gần cửa hàng vật liệu xây dựng L thuộc ấp 2, xã B thì nhìn thấy dưới mặt đường có 01 gói nylon bên trong có ma túy, được gói trong hai thẻ cào VIETTEL mệnh giá 50.000 đồng (đã qua sử dụng). Sau đó, K điện thoại cho người bán ma túy nói rằng khi nào có tiền sẽ nạp vào điện thoại của người này để trả tiền mua ma túy. K cầm gói ma túy điều khiển xe trên đường đến xã T để rủ 01 người bạn của K cùng sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang.
Theo Kết luận giám định số 54/2023/KL-KTHS ngày 31/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại methamphetamine có trọng lượng là 0,4512 gam. Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Bảo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 06/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại đã trả lại xe mô tô biển số 71C1-668.09 cho Đặng Thị Minh T, sinh năm 1983, nơi cư trú: Ấp B, thị trấn Đ là chủ sở hữu hợp pháp của xe.
Hiện đang tạm giữ: 01 phong bì niêm phong số 54/2023 bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3592 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M, Trần Văn N, Đỗ Chí T, Phan Trung T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
Tại Bản Cáo trạng số 18/CT-VKSBĐ ngày 17/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Đặng Bảo K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo Đặng Bảo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố và vật chứng đã thu thập. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định, các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Khang và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như sau:
- Về tội danh và hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Bảo K mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 54/2023 bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3592 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M, Trần Văn N, Đỗ Chí T, Phan Trung T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre. Đây là các chất ma túy bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
Chị Đặng Thị Minh T là người cho bị cáo K mượn xe mô tô, T không biết bị cáo K dùng xe mô tô để tàng trữ ma túy nên không xem xét xử lý hành vi của T là phù hợp quy định của pháp luật.
Bị cáo K khai nhận mua ma túy từ 01 thanh niên không rõ lai lịch tại xã B. Cơ quan điều tra đã xác minh, nhưng chưa có kết quả nên đã tách hồ sơ thành 01 vụ việc riêng, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Bị cáo Đặng Bảo K nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa đổi trở thành người tốt, sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Bình Đại, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa, bị cáo Đặng Bảo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/01/2023, kết luận giám định ngày 31/01/2023, phù hợp với tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Đã đủ sơ sở xác định: Vào lúc 11 giờ 05 phút ngày 30/01/2023, tại ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh T, bị cáo Đặng Bảo K đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,4512 gam loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, bị cáo Đặng Bảo K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 18/CT-VKSBĐ ngày 17/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố bị cáo Đặng Bảo K là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, vi phạm vào những điều cấm của Luật phòng, chống ma túy. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để nhận biết việc lưu giữ, tàng trữ các chất ma túy trái pháp luật sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, nhằm thỏa mãn cơn nghiện của mình, bị cáo đã sử dụng ma túy nhiều lần, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cá nhân.
Về nhân thân: Bị cáo K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 1 tình tiết là được hưởng là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã xội. Xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Mặc khác còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 54/2023 bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3592 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M, Trần Văn N, Đỗ Chí T, Phan Trung T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre. Đây là các chất ma túy bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
Chị Đặng Thị Minh T là người cho bị cáo K mượn xe mô tô, T không biết bị cáo K dùng xe mô tô để tàng trữ ma túy nên không xem xét xử lý hành vi của T là phù hợp quy định của pháp luật.
Bị cáo K khai nhận mua ma túy từ 01 thanh niên không rõ lai lịch tại xã B. Cơ quan điều tra đã xác minh, nhưng chưa có kết quả nên đã tách hồ sơ thành 01 vụ việc riêng, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Lời phát biểu luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên Tòa sơ thẩm về tội danh đối với bị cáo K, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt để nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo K phải chịu án phí theo quy định của án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Bảo K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Bảo K 15 (Mƣời lăm) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy:
01 phong bì niêm phong số 54/2023 bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3592 gam (còn lại sau giám định), bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M, Trần Văn N, Đỗ Chí T, Phan Trung T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre. Đây là các chất ma túy bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/5/2023 hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tình Bến Tre đang quản lý).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Bảo K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Bình Đại (1b); - Chi cục THA dân sự huyện Bình Đại (1b); - Cơ quan điều tra công an huyện Bình Đại (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND, Công an thị trấn Bình Đại (2b); - Bị cáo (1b); - Bộ phận thi hành án hình sự (1b); - Lưu hồ sơ vụ án và văn phòng (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hồng Phƣơng |