- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thanh T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hoàng Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 17/2023/HS-PT Ngày 13-7-2023 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hồng Quân
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Hải Anh
Bà Phạm Mai Hằng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đông - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quốc Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm C1 khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2023/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Thanh T, phạm tội Đánh bạc, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2023/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Bị cáo kháng cáo: Hoàng Thanh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10 tháng 8 năm 1990 tại tỉnh Phú Thọ; giới tính: N; nơi cư trú: Khu 2, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt N; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Văn V, sinh năm: 1959 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; vợ: Vũ Thị Bích P, sinh năm 1994; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh Phú Thọ xử phạt 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 59/2014/HS-ST ngày 21-4-2014. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-11-2022 đến ngày 10-01-2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại ở nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hùng T1 đã rút kháng cáo trong thời gian chuẩn bị xét xử; 04 bị cáo là Dương Văn Vũ Anh C1, Nguyễn Văn N, Đặng Thanh T2 và người có quyền lợi liên quan Vũ Thị H1 không kháng cáo và không bị kháng nghị, đều vắng mặt do Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 10-11-2022, sau khi ăn cơm tại quán cơm T2 Huyền, Dương Văn C lên gác xép của quán lấy một bộ bát đĩa bằng sứ và 04 quân vị cầm xuống dưới tầng rồi cùng Nguyễn Hùng T1, Nguyễn Văn N, Hoàng Thanh T, Vũ Anh C1 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa tại gian phòng ăn của quán cơm. Lúc này có mặt của Đặng Thanh T2 là chủ quán cơm ở đó và T2 đồng ý để cho T1, C, N, T và C1 đánh bạc. Những người chơi thống nhất đặt cửa thấp nhất là 100.000 đồng, mức đặt cửa cao nhất là 800.000 đồng, T1 là người cầm cái, điều hành cuộc chơi (cầm bộ bát đĩa, quân vị xóc cái để những người còn lại đặt cửa chẵn hoặc lẻ). Khi các đối tượng đánh bạc được khoảng một giờ thì bị Công an thành phố Yên Bái phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng, đồ vật liên quan đến hành vi đánh bạc.
Tại cơ quan điều tra T1, C, N, T và C1 khai nhận số tiền sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Hùng T1 bỏ ra số tiền khoảng 10.000.000 đồng, khi bị bắt quả tang tự nguyện giao nộp số tiền 10.100.000 đồng; Vũ Anh C1 bỏ ra số tiền khoảng 2.300.000 đồng, khi bị bắt quả tang tự nguyện giao nộp số tiền 4.060.000 đồng; Nguyễn Văn N bỏ ra số tiền khoảng 2.200.000 đồng, khi bị bắt quả tang tự nguyện giao nộp số tiền 1.630.000 đồng; Dương Văn C bỏ ra số tiền khoảng 2.200.000 đồng, khi bị bắt quả tang tự nguyện giao nộp số tiền 1.010.000 đồng; Hoàng Thanh T không mang theo tiền nên vay của Nguyễn Hùng T1 số tiền 1.000.000 đồng để chơi và đã thua hết. Tổng số tiền T1, C, N, T và C1 sử dụng để đánh bạc là 16.800.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2023/HS-ST ngày 11-4-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hùng T1, Hoàng Thanh T, Dương Văn C. Vũ Anh C1, Nguyễn Văn N, Đặng Thanh T2 phạm tội "Đánh bạc”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-11-2022 đến ngày 10-01-2023.
Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo:
- Nguyễn Hùng T1: 09 (Chín) tháng tù, Phạt bổ sung 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Dương Văn C: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là: 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Vũ Anh C1: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là: 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Nguyễn Văn N: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là: 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Đặng Thanh T2: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là: 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm quyết định xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật;
Ngày 17-4-2023, bị cáo Hoàng Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo;
Ngày 21-4-2023, bị cáo Nguyễn Hùng T1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Đến ngày 07-6-2023, bị cáo Nguyễn Hùng T1 rút T2 bộ nội dung kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số: 09/2023/HSPT-QĐ đối với bị cáo Nguyễn Hùng T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hoàng Thanh T giữ nguyên nội dung kháng cáo, khai nhận T2 bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2023/HS-ST ngày 11-4-2023 của Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Hoàng Thanh T được hưởng án treo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị xin được hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T làm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị cáo Nguyễn Hùng T1 đã rút T2 bộ nội dung kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hùng T1 là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thanh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định: 14 giờ ngày 10-11-2022, tại quán cơm TH có địa chỉ: Thôn B, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Bị cáo Hoàng Thanh T và các bị cáo khác là Dương Văn C Nguyễn Hùng T1, Nguyễn Văn N, Vũ Anh C1 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa. Tổng số tiền tất cả các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 16.800.000 đồng.
Bị cáo Hoàng Thanh T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định đây là trường hợp phạm tội mang tính giản đơn, số tiền đánh bạc không lớn; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, xét xử đã thành khẩn khai báo; sau khi bị xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền phạt 10.000.000,đồng và tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000,đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm đã thể hiện rõ ý thức ăn năn hối cải, tự giác chấp hành án của bị cáo. Ngoài ra bị cáo còn cung cấp các tài liệu là 02 giấy xác nhận của UBMTTQ xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ về việc: Năm 2021, Hoàng Thanh T đã tích cực ủng hộ tiền và hiện vật trị giá 25.000.000 đồng cho công tác phòng chống dịch COVID-19; năm 2022 đã ủng hộ tết vì người nghèo 300 kg gạo tẻ. Hội đồng xét xử xác định đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng thêm cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mặc dù có đặc điểm nhân thân vào năm 2014 đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có vai trò thấp nhất trong vụ án có đồng phạm; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội lần này thể hiện bị cáo là người tích cực tham gia, hưởng ứng các hoạt động tại địa phương, nên việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết mà vẫn đảm bảo việc cải tạo giáo dục đối với bị cáo, phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T để sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ cần chấp nhận.
Việc sửa bản án sơ thẩm là do phát sinh tình tiết mới trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T được chấp nhận nên bị cáo Hoàng Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thanh T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2023/HS-ST ngày 11-4-2023 của Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái như sau:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 13-7-2023).
Giao bị cáo Hoàng Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Hoàng Thanh T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi Hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT I); - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái; - Cơ quan THA hình sự; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Y; - VKSND thành phố Y; - TAND thành phố Y; - Chi cục THADS thành phố Y; - UBND xã M, huyện H, T. Phú Thọ; - Bị cáo T; - Lưu: HS, Tập án, HCTP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Quân |