vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ng đơn bà Diệp Túy M.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Diệp Túy M được ly hôn ông Nguyễn Ngọc Ng. Về con chung: Giao cho bà Diệp Túy M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Diệp Kh, sinh ngày 26/7/2021 đến tuổi trưởng thành. Bà M không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ng đơn bà Diệp Túy M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 06/3/2023
V/v:“Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hoa

Ông Nguyễn Thanh Hưng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 658/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

* Ng đơn: Bà Diệp Túy M – sinh năm 1999

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Ba, thành phố C.

Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Ng – sinh năm 1998

Nơi cư trú: Thôn H, xã Ni, thị xã N.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 8/8/2022, đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt ngày 19/10/2022, biên bản hòa giải ngày 20/12/2022 Ng đơn bà Diệp Túy M trình bày: Bà M và bà ông Nguyễn Ngọc Ng tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, kình cãi nhau do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, hai bên đã nhiều lần hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không thành, ngoài ra ông Ng thường có hành vi bạo lực gia đình, nhiều lần đánh bà M dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, bà M và ông Ng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Nay xét thấy tình cảm không còn nên xin ly hôn với ông Ng.

Về con chung: Bà M và ông Ng có 1 con chung là Nguyễn Diệp Kh, sinh ngày 26/7/2021. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh và không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M xác định bà M và ông Ng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Tại bản tự khai và biên bản hòa giải ngày 20/12/2022 bị đơn là Nguyễn Ngọc Ng trình bày: Ông Ng và bà Diệp Túy M tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kết hôn thì ông Ng sống chung với nhà bà M. Quá trình chung sống thì ông Ng thừa nhận giữa ông Ng và bà M có xảy ra mâu thuẫn, kình cãi nhau do chưa hiểu được hết cuộc sống gia đình, những lần bực tức có đánh bà M một lần sau đó ông Ng đã đi về nhà ông Ng ở từ tháng 07/2022 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay nhưng ông Ng vẫn còn thương vợ con nên bà M yêu cầu ly hôn thì ông Ng không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông Ng và bà M có 1 con chung là Nguyễn Diệp Kh, sinh ngày 26/7/2021. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông Ng đồng ý giao cháu Kh cho bà M nuôi dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Ông Ng xác định ông Ng và bà M không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Tòa án nhân dân thị xã N thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, xét mâu thuẫn giữa Ng đơn và bị đơn là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của Ng đơn là có căn cứ vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Ng đơn. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Diệp Kh, sinh ngày 26/7/2021 cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà M không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.Về tài sản chung, nợ chung: bà M, ông Ng không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Ng đã được Tòa án thông báo hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa ngày 24/02/2023 ông Ng không có mặt, Tòa án đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 06/3/2023 ông Ng tiếp tục vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ng đơn bà Diệp Túy M khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Ngọc Ng có địa chỉ tại Thôn H, xã Ni, thị xã N về việc “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Diệp Túy M và ông Nguyễn Ngọc Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63/2021 cấp ngày 15/9/2021. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của Ng đơn là bà Diệp Túy M và bị đơn là ông Nguyễn Ngọc Ng, trong quá trình chung sống giữa bà M và ông Ng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau và ông Trung có lần đánh bà M, hai bên không thể tự hòa giải để giải quyết được mâu thuẫn, bà M và ông Ng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2022 cho đến nay. Ông Ng không đồng ý ly hôn nhưng ông Ng không đưa ra được các giải pháp để hàn gắn gia đình và Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Ng đến Tòa án để hòa giải, giải quyết vụ án nhưng đến thời điểm này ông Ng vẫn vắng mặt không có lý do cho thấy ông Ng đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà M. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà M và ông Ng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ng đơn bà Diệp Túy M về việc ly hôn với ông Nguyễn Ngọc Ng.

[4] Về con chung: Bà Diệp Túy M và ông Nguyễn Ngọc Ng có 1 con chung là Nguyễn Diệp Kh, sinh ngày 26/7/2021. Bà M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Kh đang ở với bà M và đang còn nhỏ (dưới 36 tháng tuồi), đồng thời ông Ng cũng đồng ý giao cháu Kh cho bà M nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của cháu Kh có cuộc sống ổn định, đảm bảo nên tiếp tục giao cháu Kh cho bà M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Diệp Túy M không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Ng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Tài sản chung, nợ chung: Bà Diệp Túy M và ông Nguyễn Ngọc Ng xác định không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết

[6] Về án phí: Bà Diệp Túy M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 271, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ng đơn bà Diệp Túy M.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Diệp Túy M được ly hôn ông Nguyễn Ngọc Ng.

- Về con chung: Giao cho bà Diệp Túy M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Diệp Kh, sinh ngày 26/7/2021 đến tuổi trưởng thành. Bà M không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, bà Diệp Túy M và ông Nguyễn Ngọc Ng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà bà Diệp Túy M và ông Nguyễn Ngọc Ng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Quy định: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

2. Về án phí: Bà Diệp Túy M phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0005179 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã N. Bà M đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Ng đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ