- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị H và anh H1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Xuân H được ly hôn anh Trương Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13/03/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Tân
2. Ông Đặng Văn Thuận
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Xuân H; sinh năm: 1993
Địa chỉ: Thôn TS 3, xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trương Văn H1; sinh năm: 1993
Địa chỉ: Thôn TS 3, xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/08/2022, cũng như bản tự khai ngày 11/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Xuân H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 30/03/2012. Sau khi kết hôn thì vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi cọ. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng đã được hai bên gia đình K1 giải nhưng đều không có kết quả. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Trương Anh K, sinh ngày 07/10/2016 và cháu Trương Thị K1, sinh ngày 03/08/2013. Trong quá trình giải quyết vụ án chị H trình bày chị có hỏi ý kiến của các cháu để các cháu làm giấy đề nghị được ở với ai nhưng anh H1 đã giật xé đi nên chị không có ý kiến của các cháu được. Anh H1 cũng không đồng ý để chị đưa con lên tòa án lấy ý kiến các cháu. Nay ly hôn chị đề nghị giao cả hai cháu cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định cho cuộc sống các cháu. Chị có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/2 cháu cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh H1 nhưng anh H1 không có ý kiến gì. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh H1 vắng mặt không có lý do chính đáng nên không có ý kiến của anh H1 trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, chị H vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt), anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần đến để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) công bố những ý kiến của đương sự có trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Bùi Thị Xuân H được ly hôn anh Trương Văn H1. Về con chung: Giao cháu Trương Anh K, sinh ngày 07/10/2016 và cháu Trương Thị K1, sinh ngày 03/08/2013 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/2 cháu cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Về tài sản, công nợ chung các bên không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, bị đơn là anh Trương Văn H1; Địa chỉ: Thôn TS 3, xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hoá nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Trong vụ án có con chưa thành niên và quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như Viện Kiểm sát được biết để tham gia phiên tòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh Trương Văn H1 được biết về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh H1 trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Xuân H nhưng anh H1 không trình bày ý kiến và đồng thời vắng mặt không có lý do tại phiên họp. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh H1 theo đề nghị của chị H, do anh H1 không có mặt tại phiên họp và chị H đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải mà đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H1.
. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Xuân H và anh Trương Văn H1 có đăng ký kết hôn ngày 30/03/2012 tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Việc đăng ký kết hôn của chị H và anh H1 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi cọ. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm tới ai nữa. Việc này cũng đã được Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1, anh H1 không trình bày ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của chị H và cũng không có mặt để tham gia phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị H và anh H1 đã rất trầm trọng, đời sống cH1 không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai đều không còn mong muốn hàn gắn tình cảm nữa. Do đó nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh H1.
. Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Trương Anh K, sinh ngày 07/10/2016 và cháu Trương Thị K1, sinh ngày 03/08/2013. Ly hôn chị H yêu cầu giao hai cháu cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện nay hai cháu đang ở với anh H1 để tiện cho việc học tập và sinh hoạt ổn định của các cháu. Xét yêu cầu của chị H là chính đáng và hợp pháp, anh H1 không trình bày ý kiến gì. Tuy nhiên, hiện các cháu đang ở với anh H1. Để thuận tiện cho việc học tập, chăm sóc con chung, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống và sinh hoạt, cũng như xem xét về lợi ích chính đáng của các cháu. Vì vậy, HĐXX nhận thấy nên chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu K và cháu K1 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H trình bày chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh H1 cho mỗi cháu 1.000.000đ/tháng cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi, hai cháu là 2.000.000đ/tháng. Xét yêu cầu này phù hợp nên được tòa án chấp nhận.
. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H1 không trình bày ý kiến của mình nên miễn xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 BLTTDS; Điều 6, khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Xuân H được ly hôn anh Trương Văn H1.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Anh K, sinh ngày 07/10/2016 và cháu Trương Thị K1, sinh ngày 03/08/2013 cho anh Trương Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ/1 cháu, 02 cháu là 2.000.000đ cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
Chị H có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Vì quyền lợi của người chưa thành niên, anh H1, chị H có quyền thay đổi nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đủ điều kiện và căn cứ hợp pháp.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị Xuân H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số AA/2021/0007801 ngày 07/10/2022, chị H còn phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị H, anh H1. Chị H và anh H1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - Các đương sự; - UBND xã TT; - Chi cục THADS huyện T; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |