vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Kim Ph được ly hôn ông Trần Văn T.

Về con chung: Bà Ph ông T có với nhau hai người con chung là Trần Minh Th và Trần Minh Tr, nay anh Th và anh Tr đã trưởng thành, Hội đồng xét xử miễn xét. Về tài sản: Bà Ph không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "THACH THI KIM PH - TRAN VAN T - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Kim Ph được ly hôn ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07-4-2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kim Ngân

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

2. Ông Nguyễn Phước Lộc

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Chí - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia và đình thụ lý số: 304/2022/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc:“Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Kim Ph, sinh năm 1971, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 3, xã Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1965 (Vắng mặt lần thứ hai)

Địa chỉ: Ấp 3, xã Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2022, các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn bà Thạch Thị Kim Ph trình bày:

Bà Thạch Thị Kim Ph và ông Trần Văn T qua thời gian tìm hiểu và tự nguyện yêu thương nhau, được sự đồng ý của hai bên gia đình tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc, ngày 20-10-2002.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có với nhau hai người con chung là Trần Minh Th, sinh năm 1989 và Trần Minh Tr, sinh năm 1995.

Quá trình chung sống hạnh phúc, ông T là người biết chăm lo cho gia đình và cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên thời gian gần đây ông T hay bài bạc, nhiều lần gây ra nợ nần, những lần như vậy thì ông T thay đổi tính tình, bạo hành gia đình, vợ con. Bà Ph đã nhiều lần khuyên nhủ ông T bỏ bài bạc, tu chí làm ăn để nuôi vợ con, nhưng mỗi lần bà Ph động viên thì ông T không nghe mà lại càng bạo hành hơn.

Vợ chồng đã sống ly thân với nhau được hơn tám năm nay, bà Ph cũng đã nhiều lần nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông T ra Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc nhưng bà đã rút đơn kiện về vì muốn cho ông T cơ hội sữa chữa, để quay về chung sống đoàn tụ với vợ con, nhưng ông T không thay đổi được.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân trầm trọng, hạnh phúc không đạt được. Bà Ph yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

Về hôn nhân: Bà Ph yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có với nhau hai con chung là Trần Minh Th, sinh năm 1989 và Trần Minh Tr, sinh năm 1995, nay các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt. Mặc dù ông T có mặt tại chỗ ở hiện nay, nhưng vẫn cố tình lánh mặt, không tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và những người tham dự phiên tòa đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay bà Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho Bà Ph được ly hôn với ông T.

Về con chung: Đã trưởng thành, đề nghị miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Thạch Thị Kim Ph là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Trần Văn T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Ph và ông T là phù hợp.

Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Kim Ph và ông Trần Văn T xin đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc (nay là thành phố Phú Quốc) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 20-10-2002, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Ph, ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014.

Quá trình giải quyết vụ án bà Ph xác định bà không thể tiếp tục chung sống với ông T, vì giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn với nhau được, tình trạng hôn nhân trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Ph yêu cầu được ly hôn với ông T.

Xét yêu cầu của bà Ph, Hội đồng xét xử thấy rằng, việc bà Ph xác định khi sống chung với ông T giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn là phù hợp với kết quả xác minh ông Trần Minh Th là con ruột của bà Ph và ông T thì được biết giữa bà Ph, ông T khi chung sống có nhiều mâu thuẫn, ông T thường xuyên bài bạc, gây ra nợ nần, thường xuyên bạo hành, đánh đập bà Ph và các con. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ph và quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát chấp nhận cho bà Ph được ly hôn với ông T là phù hợp.

Về con chung: Bà Ph, ông T có với nhau hai người con chung là Trần Minh Th và Trần Minh Tr, nay Th và Tr đã trưởng thành, Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu, hội đồng xét xử miễn xét.

Về nợ chung: Bà Ph xác định không có nợ chung, hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bà Ph phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; 39; 147; 227; 228; 238; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 9; 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Kim Ph được ly hôn ông Trần Văn T.

2. Về con chung: Bà Ph ông T có với nhau hai người con chung là Trần Minh Th và Trần Minh Tr, nay anh Th và anh Tr đã trưởng thành, Hội đồng xét xử miễn xét.

3. Về tài sản: Bà Ph không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.

4. Về nợ chung: Bà Ph xác định không có, Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Về án phí: Bà Thạch Thị Kim Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0000768 ngày 01-12-2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, bà Ph đã thực hiện xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành ánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bà Ph, ông T vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú) để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang./.

Cỡ chữ