- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nông Thị Nh, Đào Văn M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HNGĐ - ST Ngày 08 - 3 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Xuân Vũ;
2. Bà Vũ Thị Hồng.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 339/2022/TLST
- HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST - HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/2023/TB-XX ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị Nh, sinh năm 1992.
Trú tại: Thôn 01 T, xã PL, huyện LY, tỉnh YB; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Đào Văn M, sinh năm 1990.
Trú tại: Thôn 01 T, xã PL, huyện LY, tỉnh YB; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2022 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nông Thị Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nh và anh Đào Văn M kết hôn ngày 22-9-2011 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Phúc Lợi, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Quá trình chung sống bình thường đến cuối năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị Nh và anh M hiện tại sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, không quan tâm đến nhau nữa. Chị Nh xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nh được ly hôn với anh Đào Văn M.
Về con chung: chị Nh và anh M có hai con chung con thứ nhất là Đào Thị Ngọc Yến, sinh ngày 09-8-2011; con thứ hai là Đào Anh Vũ, sinh ngày 14-7-2015 sau khi ly hôn chị Nh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Thị Ngọc Yến, sinh ngày 09-8-2011, giao anh M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Anh Vũ, sinh ngày 14-7-2015, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tiến hành phiên hoà giải, nhưng anh M không có mặt tại Tòa án, Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được và xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến đối với Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về tố tụng, nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh M vắng mặt chưa hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ kiện.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nh được ly hôn với anh M. Về con chung, căn cứ điều kiện về chỗ ở, đơn đề đạt nguyện vọng của con chung, yêu cầu nuôi con chung của chị Nh là có căn cứ. Cần giao cho chị Nh là người trực tiếp nuôi con chung là Đào Thị Ngọc Yến, sinh ngày 09-8-2011, giao anh M trực tiếp nuôi con chung là Đào Anh Vũ, sinh ngày 14-7-2015, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật vụ án ly hôn, theo đơn khởi kiện của chị Nông Thị Nh, do bị đơn anh M có hộ khẩu thường trú tại Thôn 01 T, xã PL, huyện LY, tỉnh YB. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái có thẩm quyền giải quyết.
Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do anh M được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt không có ly do.
Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Nh và anh Đào Văn M kết hôn ngày 22-9-2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phúc Lợi, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định tại Điều 9, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này qua lời khai của chị Nh cuối năm 2021 chị và anh M phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh M thường xuyên uống rượu có hành vi bạo lực với chị, chị Nh và anh M đã sống ly thân từ thời gian đó đến nay không quan tâm đến nhau nữa.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chungthuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cung nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị Nh và anh M thường xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân là đúng thực tế, căn cứ biên bản xác minh ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại Thôn 01 T, xã PL, huyện LY, tỉnh YB.
Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nh và anh M đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị Nh được ly hôn với anh Đào Văn M.
Về con chung: Chị Nh và anh M có hai con chung con thứ nhất là Đào Thị Ngọc Yến, sinh ngày 09-8-2011 hiện đang ở cùng chị Nh; con thứ hai là Đào Anh Vũ, sinh ngày 14-7-2015 hiện đang ở cùng anh M, nguyện vọng của cháu Yến được ở với mẹ, cháu Vũ được ở với bố. Khi ly hôn chị Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Yến và giao anh M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Vũ không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Nông Thị Nh phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Nh được ly hôn với anh Đào Văn M.
2. Về nuôi con chung: Chị Nông Thị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đào Thị Ngọc Yến, sinh ngày 09-8-2011 đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đào Anh Vũ, sinh ngày 14-7-2015 đến khi con chung đủ 18 tuổi không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau, chị Nh và anh M có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nông Thị Nh phải nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: AA/2021/0003383 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị Nh đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm chị Nh, anh M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Huyện; - Thi hành án dân sự Huyện; - UBND xã Phúc Lợi; - Các đương sự; - Lưu HS,T.A,THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đỗ Quỳnh |