- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Bích Ph.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 06/3/2023. V/v:“Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Sỹ Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huynh.
Ông Lưu Đức Chung.
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 856/2023/HNGĐ-ST ngày 31/10/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXX-ST ngày 23/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Bích Ph, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Hồ Nhựt Công Q, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Nguyễn Bích Ph trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hồ Nhựt Công Q tự nguyện kết hôn với nhau năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Long Thành. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách hai người không hợp nhau, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Mặc dù cả hai đã tự hòa giải đoàn tụ nhưng không được. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông Hồ Nhựt Công Q.
+ Về con chung: Hai vợ chồng có 03 con chung là cháu Hồ Nguyễn Cát T, sinh năm 2004; Hồ Nguyễn Tường A, sinh năm 2010 và Hồ Nguyễn An Nh, sinh năm 2013. Sau khi ly hôn, bà Ph đề nghị giao 03 con chung cho bà Ph chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Hồ Nhựt Công Q:
Đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Q có đơn xin vắng mặt và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của bà Ph.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Bích Ph và ông Hồ Nhựt Công Q sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, nay bà Ph xin ly hôn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ph. Về con chung đề nghị giao cháu Hồ Nguyễn Tường A, sinh năm 2010 và Hồ Nguyễn An Nh, sinh năm 2013 cho bà Ph chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Hồ Nhựt Công Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Bích Ph và ông Hồ Nhựt Công Q kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Long Thành cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà Phượng trình bày phát sinh mâu thuẫn nhiều vấn đề trong cuộc sống với ông Q và không thể hàn gắn, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Ph và ông Q lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho bà Ph được ly hôn với ông Q là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Hồ Nguyễn Cát T, sinh năm 2004; Hồ Nguyễn Tường A, sinh năm 2010 và Hồ Nguyễn An Nh, sinh năm 2013d. Xét thấy, cháu Hồ Nguyễn Cát T đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; giao cháu Hồ Nguyễn Tường A, sinh năm 2010 và Hồ Nguyễn An Nh, sinh năm 2013 cho bà Ph chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Bích Ph phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86, Điều 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Bích Ph. Bà Nguyễn Bích Ph được ly hôn với ông Hồ Nhựt Công Q.
[2] Về con chung: Giao cháu Hồ Nguyễn Tường A, sinh năm 2010 và Hồ Nguyễn An Nh, sinh năm 2013 cho bà Ph chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Hồ Nhựt Công Q vẫn được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông Q thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Bích Ph phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Ph đã nộp theo biên lai thu số 0006355 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà Ph phải nộp.
Bà Nguyễn Bích Ph được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Hồ Nhựt Công Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai. - VKSND H.Long Thành. - Chi cục THA.DS H.Long Thành. - UBND xã Long Phước. - Các đương sự. - Lưu: HS, VP, BP, TP(L). | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Mai Sỹ Tuân |