vanban.org

Bản án 17/2023/DSST-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP VNTV đối với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H.

Buộc ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền tính đến ngày xét xử ngày 25.4.2023 là 528.496.996 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, chín trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là: 375.271.969 đồng và nợ lãi là: 153.225.027 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Việt Nam TV kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP VNTV đối với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/DSST-ST
Ngày 25.4.2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hƣơng Trà - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hƣơng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 154/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022, về việc: “Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-DS ngày 5 tháng 4 năm 2023 giữa:

*Ng đơn: Ngân hàng TMCP VNTV; địa chỉ: số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí Dũng; chức vụ: Tổng Giám đốc. Ông Ngô Chí Dũng ủy quyền cho ông Phạm Tuấn Anh; chức vụ: Phó giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý (Theo Văn bản ủy quyền số 25/2020 của Chủ tịch hội đồng quản trị VP bank). Ông Phạm Tuấn Anh ủy quyền cho ông Dương Đình Dụng; Nguyễn Mạnh Sỹ, Nguyễn Đăng Hùng; Trần Đình Luyến, Nguyễn Lê Anh Tuấn, ông Nguyễn Bá Tình (Theo Văn bản ủy quyền số 138/2022/UQ-VPB ngày 01 tháng 12 năm 2022); địa chỉ: Tầng 4, tòa nhà 112 Phan Châu Trinh, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. có mặt

* Bị đơn: Ông Nguyễn Công Ng, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: K62/H35/05 NPV, tổ 68 phường TQ, quận S, TP. Đà Nẵng. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Ng đơn đại diện Ngân hàng TMCP VNTV ông Trần Đình Luyến trình bày:

Ngày 19.12.2019, ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H vay vốn tại VPBank - Chi nhánh Đà Nẵng theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp Ngày 19.12.2019, ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H vay xe ô tô số LN1912091955375 với số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) với thời hạn vay 96 tháng. Mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ô tô. Phương thức thanh toán: trả nợ gốc định kì 01 tháng/01 lần vào ngày 19 hằng tháng. Trả lãi dịnh kì 01 tháng/01 lần vào ngày 19 hãng tháng. Lãi suất trong hạn: 7.9%/năm(với mỗi năm là 365 ngày), trong khoảng thời gian 12 tháng kể từ ngày 20/12/2019 lãi suất cho vay sẽ được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân, hết 03 tháng lãi suất cho vay sẽ điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ 01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 20/03/2020, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là 01/04/2020 theo lãi suất cơ sở VND áp dụng với khoản vay có tài sản bảo đảm dành đạo + độ 1,5%/năm. Hết 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên lãi suất sẽ điều chỉnh 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 20/12/2020 ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là 01/01/2021 theo lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng của VPBank tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,5%/năm. Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Rằng cấp ngày 16 Bid không có thể Tài sản bảo đảm là: xe ô tô nhãn hiệu KIA mang BKS 43A – 520.93 có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP Đà Nẵng cấp ngày 16/12/2019 đứng tên ông Nguyễn Công Ng. Tài sản đã được thế chấp theo hợp đồng cho vay kiếm hợp đồng thế chấp xe ô tổ số LN19122091955375 ngày 19/12/2019 đã được Phòng Công chứng công nhận và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 19/12/2019. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H đã thực hiện thanh toán đến ngày 15.7.2021 với số tiền đã thanh toán là gốc 64.728.031 đồng và lãi 41.850.921 đồng. Đến ngày vi phạm quá hạn là ngày 19.3.2021 ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng nêu trên nên khoản vay đã chuyển quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện, gửi thông báo dôn dốc nhưng ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ quá hạn. Nên Ngân hàng quyết định khởi kiện ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu ông Ng và bả H phải thanh toán số nợ tính đến ngày 25.4.2023 là 528.496.996 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, chín tẳn chín mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là: 375.271.969 đồng và nợ lãi là: 153.225.027 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký số LN1912091955375 ngày 19.12.2019 kể từ ngày 26.4.2023 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết khoản nợ. - Nếu ông Ng và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng - yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô hiệu KIA mang BKS 43A - 520.93 có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP Đà Nẵng cấp ngày 16/12/2019 đứng tên ông Nguyễn Công Ng để thu hồi nợ.

* Bị đơn ông Nguyễn Công Ng và Bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông Nguyễn Công Ng và Bà Nguyễn Thị Thu H trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do Ng đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho đến phiên toà xét xử. Ng đơn chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP VNTV đối với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H.

Đề nghị : Buộc ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền tính đến ngày xét xử 25.4.2023 là 528.496.996 đồng. Trong đó nợ gốc là: 375.271.969 đồng và nợ lãi là: 153.225.027 đồng:và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 26.4.2023 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất (trong hạn, quá hạn) do các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LN1912091955375 ngày 19.12.2019 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết khoản nợ.

- Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H không trả được nợ thì tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô mang nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát: 43A 520.93, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 16/12/2019 đứng tên ông Nguyễn Công Ng được xử lý theo Điều 299 và 303 Bộ luật dân sự để thu hồi nợ.

- Trường hợp ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H hoàn tất xong khoản nợ thì phía Ngân hàng TMCP VNTV phải hoàn trả lại cho ông Ng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 cấp ngày 16/12/2019 tại Công an thành phố Đà Nẵng đứng tên ông Nguyễn Công Ng theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi đại diện VKS phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP VNTV với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Công Ng và Bà Nguyễn Thị Thu H có vay vốn tại Ngân hàng TMCP VNTV theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1912091955375 ngày 19/12/2019 với số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 96 tháng. Lãi suất: 7,9%/năm, lãi suất quá hạn là 150%. Lãi suất thay đổi định kỳ 03 tháng/lần theo quy định của Ngân hàng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua ô tô.

Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho ông Ng và bà H theo Giấy đề nghị giải ngân ngày 19.12.2019 và ủy nhiệm chi ngày 20.12.2019 đúng theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kết.

Tài sản đảm bảo cho khoản nợ vay trên là xe ô tô mang nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát: 43A-520.93, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 16.12.2019 đứng tên ông Ng Công Ng. Tài sản đã được thế chấp theo hợp đồng cho vay kiếm hợp đồng thế chấp xe ô tổ số LN19122091955375 ngày 19.12.2019 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 19.12.2019.

Trong quá trình trả nợ vay, ông Ng và bà H đã thanh toán đến ngày 15.7.2021 số tiền gốc là 64.728.031 đồng và lãi là 41.850.921 đồng. Tính đến ngày 19.3.2021 ông Ng và bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo về việc thu hồi nợ nhưng ông Ng và bà H không thanh toán nợ như đã cam kết làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện ngân hàng yêu cầu ông Ng và bà H thanh lý toàn bộ hợp đồng, trả một lần cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 25.4.2023 là 528.496.996 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, chín trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là: 375.271.969 đồng và nợ lãi là: 153.225.027 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký số LN1912091955375 ngày 19.12.2019 kể từ ngày 26.4.2023 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết khoản nợ.

Nếu ông Ng và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô hiệu KIA mang BKS 43A - 520.93 có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP Đà Nẵng cấp ngày 16/12/2019 đứng tên ông Nguyễn Công Ng để thu hồi nợ.

. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số LN1912091955375 ngày 19.12.2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vương với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả lãi và gốc, vi phạm định kỳ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc để yêu cầu ông Ng và bà H thanh toán nợ nhưng đến nay ông Ng và bà H vẫn chưa thanh toán được nợ cho Ngân hàng. HĐXX xét thấy ông Ng và bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng. Việc khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Ng và bà H phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử ngày 25.4.2023 là 528.496.996 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, chín trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là: 375.271.969 đồng và nợ lãi là: 153.225.027 đồng và tiếp tục phải trả lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại kể từ ngày 26.4.2023 cho đến khi tất toán khoản vay là phù hợp với Điều 463 và 466 của BLDS; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 nên được chấp nhận.

Đối với xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay là chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát: 43A 520.93, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 16/12/2019 đứng tên ông Nguyễn Công Ng, thì thấy:

HĐXX xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ông Ng và bà H đã bán nhà đi khỏi địa phương. Để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, ngày 14.12.2022 Toà án đã ban hành Công văn số 154/CV-TA về việc đăng tin trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đơn yêu cầu của Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng không thực hiện thủ tục đăng phát thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng như đã yêu cầu mà trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng trình bày việc thế chấp tài sản được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, có tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, Ngân hàng đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy việc thế chấp tài sản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, có tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng nên trong trường hợp ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H không thanh toán nợ thì cần phải xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng là phù hợp với Điều 299 và 303 Bộ luật dân sự.

Trường hợp ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H hoàn tất xong khoản nợ thì phía Ngân hàng TMCP VNTV phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Công Ng và Nguyễn Thị Thu H: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 cấp ngày 16/12/2019 tại Công an thành phố Đà Nẵng đứng tên ông Nguyễn Công Ng theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.

Các đề nghị của đại diện viện kiểm sát về nội dung vụ án tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Ng và bà H phải hoàn lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP VNTV là đúng với quy định tại Điều 157 và Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí DSST: Ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu là: 24.979.480 đồng (hai mươi bốn triệu, chín trăm bảy mươi chín ngàn, bốn trăm tám mươi đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản; Điều 157, Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016; Điều 463; Điều 466 và Điều 299 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP VNTV đối với ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền tính đến ngày xét xử ngày 25.4.2023 là 528.496.996 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, chín trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là: 375.271.969 đồng và nợ lãi là: 153.225.027 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 26.4.2023 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất (trong hạn, quá hạn) do các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LN1912091955375 ngày 19.12.2019 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết khoản nợ.

Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H không trả được nợ thì tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô mang nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát: 43A 520.93, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 do phòng cảnh sát giao thông công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 16/12/2019 đứng tên ông Nguyễn Công Ng được xử lý theo Điều 299 và 303 Bộ luật dân sự để thu hồi nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H hoàn tất xong khoản nợ thì phía Ngân hàng TMCP VNTV phải hoàn trả lại cho ông Ng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086163 cấp ngày 16/12/2019 tại Công an thành phố Đà Nẵng đứng tên ông Nguyễn Công Ng theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.

2. Án phí DS- ST: 24.979.480 đồng (hai mươi bốn triệu, chín trăm bảy mươi chín ngàn, bốn trăm tám mươi đồng) ông Nguyễn Công Ng và bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền 11.340.035 đồng (Mười một triệu, ba trăm bốn mươi ngàn, không trăm ba mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006530 ngày 10.11.2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Ng và bà H phải hoàn lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP VNTV.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ