vanban.org

Bản án 17/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

2-Buộc bà Nguyễn Thị H và ông Hồ Xuân P phải trả cho ông Hồ Minh C số nợ gốc là 80.000.000 đồng và số nợ lãi là 22.576.000 đồng; Tổng cộng hai khoản: 80.000.000 đồng + 22.576.000 đồng = 102.576.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hồ Minh Châu kiện Nguyễn thị HIệp"
  • Tòa quyết gì? 1-Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/DS-ST
Ngày 11/7/2023
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CAM LAÂM - TỈNH KHÁNH HÒA

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên toà: Ông Trần Được

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Lai

2. Ông Lê Quí Hùng

-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hà- Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

Ngày 11/7/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-DS ngày 19/6/2023 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Hồ Minh C - Sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Vinh Bình, xã Cam Tân, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên toà

*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1972 và ông Hồ Xuân P, có cùng địa chỉ: Thôn Phú Bình 2, xã Cam Tân, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Bà H có mặt tại phiên toà, ông P có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hồ Minh C trình bày:

Vào ngày 09/01/2022, tôi có cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Xuân P vay số tiền 80.000.000 đồng. Khi vay thì hay bên có viết giấy hợp đồng vay tiền cho cá nhân. Thời hạn vay là 06 tháng. Đến nay đã quá thời hạn nhưng vợ chồng bà H, ông P vẫn không trả sổ tiền trên cho tôi, nay tôi yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Xuân P phải trả cho tôi một lần số tiền số tiền 102.576.000 đồng gồm gốc: 80.000.000 đồng, lãi tính đến ngày xét xử 11/7/2023 là 22.576.000 đồng.

-Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Tôi xác nhận vợ chồng tôi có nợ số tiền trên của ông H số tiền trên. Do không có khả năng trả một lần cho ông H nên tôi xin trả tiền gốc mỗi tháng 2.000.000 đồng. Đối với khoản tiền lãi tôi xin ông H không tính vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn ông Hồ Minh C, bị đơn bà Nguyễn Thị H có mặt, bị đơn ông Hồ Xuân P có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp:

Vào ngày 09/01/2022, bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Xuân P có vay của nguyên đơn ông Hồ Minh C số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất theo qui định của pháp luật, thời hạn vay từ ngày 09/01/2022 đến 09/7/2022 (6 tháng), khi vay hai bên có làm hợp đồng vay tiền cá nhân, có chữ ký của cả hai bên nên được xác định việc vay mượn là có thật. Đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng vợ chồng bà H, ông P vẫn không trả số tiền trên cho ông C nên ông C khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Xuân P phải trả một lần số tiền 102.576.000 đồng gồm gốc: 80.000.000 đồng, lãi tính đến ngày xét xử 11/7/2023 là 22.576.000 đồng.

Bà H thừa nhận việc vay và xác nhận vợ chồng bà có nợ ông C số tiền trên nhưng không có khả năng trả một lần nên bà xin trả tiền gốc mỗi tháng 2.000.000 đồng. Đối với khoản tiền lãi bà H xin ông C không tính vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng nguyên đơn ông C không đồng ý.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc vay tiền giữa hai bên là có thật, hai bên có làm hợp đồng vay, qui định thời gian vay và thời gian trả nợ, lãi suất theo qui định của Nhà nước là phù hợp với pháp luật, đến nay mặc dù đã quá thời hạn trả nợ nhưng bị đơn không trả nên nguyên đơn ông Châu khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn trả số tiền gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi tính đến thời điểm xét xử 11/7/2023 với lãi suất 1,66% (không quá 20%/năm theo qui định của Nhà nước), gồm gốc 80.000.000 đồng, cộng với lãi 17 tháng x 1,66%/tháng x 80.000.000 đồng = 22.576.000 đồng, tổng gốc và lãi là 102.576.000 đồng là phù hợp với thực tế và pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

-Căn cứ vào các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1-Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1.2-Buộc bà Nguyễn Thị H và ông Hồ Xuân P phải trả cho ông Hồ Minh C số nợ gốc là 80.000.000 đồng và số nợ lãi là 22.576.000 đồng;

Tổng cộng hai khoản: 80.000.000 đồng + 22.576.000 đồng = 102.576.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng)

2-Về án phí:

-Bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Xuân P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 102.576.000 đồng x 5% là 5.128.000 đồng.

-Hoàn lại cho ông Hồ Minh C 2.600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009574 ngày 23/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

3-Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

4-Qui định: Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền nói trên thì phải chịu thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hảnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ