vanban.org

Bản án 17/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Trương Phước H và Nguyễn Quang H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

1. Áp dụng điểm b, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt: bị cáo Lê Trương Phước H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 22/4/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Trương Phước H và Nguyễn Quang H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 17/2022/HSST
Ngày 14 – 01 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Hữu Luân – Phó hiệu trưởng Trường tiểu học Lam Sơn

2/ Ông Nguyễn Văn Hoàng – Cán bộ hưu trí Phường 12, quận Bình Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Luy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lê Trương Phước H, tên gọi khác: Tỏn; giới tính: nam; sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 451 N, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn H và con bà Trương A X, chưa có vợ con. Tiền án: không, 01 tiền sự: Từ tháng 3/2019 đến tháng 8/2020, đi cai nghiện bắt buộc tại trại cai nghiện Phước Bình, Đồng Nai theo Quyết định số 77/2019/QĐ-TA của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh ngày 07/3/2019. Tạm giam từ ngày 22/4/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Quang H1, tên gọi khác: Mập; giới tính: nam; sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 295/20 N, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 393/4 N, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và con bà Lê Thị Kim N, chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giam từ ngày 23/4/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trịnh Trung A, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 245/17 B, phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bà Phạm Thanh T, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 509 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Bà Trương A X, sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: 451 N, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 22/4/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình Thạnh phối hợp với Công an Phường 13, quận Bình Thạnh tuần tra đến trước số 451 N, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Lê Trương Phước H điều khiển xe gắn máy biển số: 59S3-343.15 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe và mời về trụ sở Công an Phường 13, quận Bình Thạnh để kiểm tra hành chính.

Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong túi quần sau bên trái của Phước H đang mặc có 01 mảnh giấy màu trắng quấn quanh 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Phước H khai nhận cất giấu gói ma túy “Khay” để đi giao cho Phạm Thanh T theo sự hướng dẫn của Nguyễn Quang H1.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phước Huy tại nhà số 451 N, Phường X, quận Y. Qua khám xét nơi ở không phát hiện thu giữ gì.

Sau đó Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Phước H xác định địa điểm nhà của đối tượng Nguyễn Quang H1 tại địa chỉ 393/4 N, Phường X, quận Y và xác định có mặt đối tượng tên Nguyễn Quang H1 trong nhà. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và người của Nguyễn Quang H1, thu giữ 1.200.000 đồng và 01 điện thoại Oppo màu đỏ.

Phước H khai nguồn gốc ma túy là của A ở nhà số 215/111/5 N, Phường X, quận Y nên Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Phước H xác định nhà và kiểm tra hành chính đối với Trịnh Trung A, không thu giữ gì.

Phước H khai nhận trước đó có giao cho T 01 gói ma túy Khay tại hẻm 261 đường C, Phường S, quận Y nên Cơ quan điều tra phối hợp Công an Phường 12 tiến hành rà soát và mời Phạm Thanh T về làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, Lê Trương Phước H và Nguyễn Quang H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 16/4/2021, Phước H, Trịnh Trung A cùng một nhóm bạn (tổng cộng 07 người không rõ nhân thân, lai lịch) có đến quán Bar Rocco, Quận 3 để chơi. Tại đây có một người bạn tên B bỏ ra 01 gói ma túy “khay” để cả nhóm cùng sử dụng. A là người đứng ra trả tiền chơi bar và tiền ma túy trước, mọi người sẽ góp tiền trả lại cho A sau (mỗi người phải trả 1.250.000 đồng). Kết thúc cuộc chơi thấy còn dư 01 ít ma túy “khay” nên Phước H nói với A là H sẽ mang số ma túy này về cất giữ nếu có cần thì sử dụng (có nghĩa cứ để đó nếu đi chơi bar thì đem đi chơi tiếp).

Khoảng 18 giờ ngày 22/4/2021 Phạm Thanh T nhắn tin cho Nguyễn Quang H1 qua ứng dụng messenger - facebook hỏi mua “2 chấm” ma túy “khay”, Quang H1 báo giá là 1.500.000 đồng. Sau đó, Quang H1 ngỏ lời cho T nếu mua “3 chấm” ma túy “khay” thì Quang H1 sẽ bán cho T với giá 2.000.000 đồng thì T đồng ý mua. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Quang H1 gọi điện cho A qua messenger facebook hỏi mua “25 số” ma túy “khay” (vì Quang H1 đã từng giao ma túy giúp A và hay được A cho ma túy để sử dụng nên nghĩ A sẽ có ma túy để bán cho Quang H1) thì a nói Quang H1 liên lạc với Phước H, Quang H1 hỏi giá thì A báo là 2.100.000 đồng. Sau khi gọi điện cho Phước H để lấy “25 số” ma túy “khay” thì Quang H1 nói Phước H chia “25 số” ma túy trên thành 02 gói ma túy nhỏ (01 gói “15 số” và 01 gói “10 số”) rồi đem giao cho T gói ma túy “15 số” (tương đương “3 chấm” ma túy “khay”) tại hẻm 261 đường C, Phường S, quận Y với giá 2.000.000 đồng. Sau đó đem tiền cùng với gói ma túy “10 số” qua nhà 393/4 N, Phường X, quận Y đưa cho Quang H1.

Tại nhà Quang H1, Quang H1 đưa lại cho Phước H số tiền 2.000.000 đồng vừa bán được gói ma túy cho T cùng với tờ vé số trúng thưởng 100.000 đồng để Phước H đem về trả cho A. Tiền công Phước H đi giao ma túy cho T là 400.000 đồng nhưng do hết tiền nên Quang H1 nợ khi nào có tiền sẽ trả sau. Sau đó Phước H điện thoại cho A báo với A việc bán ma túy cho Quang H1 “25 số” ma túy “khay” giá 2.100.000 đồng, đồng thời qua nhà A nhậu sẵn tiện đưa tiền cho A luôn. Khi qua nhà A, Phước H để 2.000.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) cùng tờ vé số trúng 100.000 đồng trên bàn nhậu và nói với A “tiền bữa đi Bar còn thiếu nhiêu thì bù sau”, lúc này trong nhà còn có mặt của bạn gái A tên Võ Thị Diễm M và G (bạn của A). A có nhìn thấy việc Phước H bỏ số tiền xuống bàn nhưng sau đó quên cất đi nên không biết ai cất giữ số tiền trên.

Nhậu xong ở nhà thì Phước H, A, G tiếp tục đi ra ngoài quán nhậu để nhậu, lúc này Quang H1 nhắn tin cho Phước H kêu qua nhà Quang H1 lấy tiếp “10 số” ma túy “khay” khi nãy và kiếm chỗ mua thêm 05 viên thuốc lắc giá 1.000.000 đồng để tiếp tục mang đi bán cho T tổng cộng với giá 3.000.000 đồng (“10 số” ma túy “khay” bán giá 1.500.000 đồng, 5 viên thuốc lắc bán giá 1.500.000 đồng). Vì không muốn phải quay lại đưa tiền cho Quang H1 nên khi sang tới nhà Quang H1, Phước H đã ứng tiền cá nhân là 1.200.000 đồng đưa trước cho Quang H1 để khi giao thành công ma túy cho T nhận 3.000.000 đồng thì Phước H sẽ cầm tiền luôn mà không cần quay lại nhà để đưa tiền cho Quang H1 (số tiền 1.200.000 đồng là số tiền sau khi đã trừ 800.000 đồng cho 02 lần giao ma túy giúp Quang H1 và 1.000.000 đồng Phước H dự định mua 05 viên thuốc lắc). Khi Phước H đang trên đường đi về thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang như trên.

Lê Trương Phước H đã giao ma túy giúp Nguyễn Quang H1 được 03 lần. Lần đầu vào ngày 18/4/2021 Quang H1 nhờ Phước H giao cho T “1 chấm” ma túy “khay” giá 800.000 đồng tại hẻm 261 đường C, Phường S, quận Y. Tuy nhiên Phước H chỉ giao giúp nhưng không lấy tiền công. Lần 2 và lần 3 là vào ngày 22/4/2021.

Nguyễn Quang H1 đã bán ma túy cho T được 04 lần. Lần đầu vào khoảng tháng 2/2021, Quang H1 bán cho T “10 số” ma túy “khay” giá 1.400.000 đồng. Quang H1 là người trực tiếp đi giao cho Trúc. Lần 02 vào ngày 18/4/2021 Quang H1 bán cho T “1 chấm” ma túy “khay” giá 800.000 đồng, Phước H là người đi giao. Lần 3 và Lần 4 là vào ngày 22/4/2021.

Tại kết luận giám định số 2215/KLGĐ-H ngày 28/4/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4759g, loại Ketamine.

Vật chứng gồm:

Thu giữ của Lê Trương Phước H:

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4759g, loại Ketamine (01 gói niêm phong bên ngoài có ghi vụ số 686/2021 Bình Thạnh và các chữ ký ghi tên Giám định viên Huỳnh Thanh Thảo, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tuấn, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm: tinh thể không màu có khối lượng 1,1960g).

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh rêu số thuê bao 0797225923 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ số thuê bao 0358740751 (là điện thoại Phước H dùng để liên lạc mua bán ma túy).

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario 150, Biển số: 59S3-343.15; số khung: MH1KF4114LK944635; số máy: KF41E – 1947036. Qua xác minh được biết chiếc xe trên do Phước H đứng tên chủ sở hữu.

- 24.380.000 đồng, là số tiền của bà Trương A X(mẹ ruột Phước H). Bà X khai nhận ngày 22/4/2021 bà X đưa số tiền trên cho Phước H để đi trả tiền hàng giúp bà X.

- 01 mảnh giấy: dùng để quấn quanh gói ma túy.

Thu giữ của Nguyễn Quang H1:

- Số tiền 1.200.000 đồng: Đây là số tiền thu lợi được từ việc mua bán trái phép chất ma túy của Quang H1 do Phước Huy đưa cho Quang H1 tại nhà Quang H1.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ số thuê bao 0938964414 (là điện thoại Quang H1 dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy).

Bản cáo trạng số 206/CT-VKSBTh ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lê Trương Phước H, Nguyễn Quang H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Lê Trương Phước H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Quang H1 từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù.

Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và tiền thu lợi bất chính theo quy định pháp luật và đề nghị phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận:

Vào lúc 21 giờ ngày 22/4/2021, tại trước số 451 N, Phường X, quận Y, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt quả tang bị cáo Lê Trương Phước H có hành vi cất giữ 1,4759g ma túy ở thể rắn, loại Ketamine. Bị cáo Phước H khai nhận gói ma túy trên do bị cáo Nguyễn Quang H1 đưa cho Phước Huy để bán cho Nguyễn Thanh T, mục đích bán ma túy để hưởng lợi. Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 23/4/2021, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Quang H1 thu giữ 1.200.000 đồng. Quang H1 khai nhận số tiền trên là tiền thu được từ việc mua bán trái phép chất ma túy.

Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Trương Phước H và Nguyễn Quang H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3 Bằng ý thức của mình, các bị cáo biết rõ đây là loại biệt dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý vì chúng có tính gây nghiện mạnh, hủy hoại sức khỏe và khả năng lao động, làm cho thần kinh của người nghiện bị tổn hại dẫn đến rối loạn hành vi, dẫn tới suy yếu nòi giống, là nguồn gốc và điều kiện phát sinh lan truyền các căn bệnh nguy hiểm, nhất là đại dịch HIV/AIDS. Do đó, Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố tình lén lút mua đi bán lại cho người khác nhằm mục đích thu lợi.

Hành vi phạm tội trên đây của các bị cáo Lê Trương Phước H và Nguyễn Quang H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, bởi lẽ bị cáo nhận thức rất rõ hành vi của mình là hoàn toàn trái với pháp luật và sẽ bị luật pháp cấm đoán và trừng trị nghiêm khắc; các bị cáo biết là sai mà vẫn làm là coi thường, thách thức luật pháp của Nhà nước nhằm thỏa mãn động cơ tư lợi cá nhân; nên Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.

4 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Riêng bị cáo Quang H1 có thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự và trở về địa phương nên cần áp dụng khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Ngoài ra, với tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử buộc mỗi bị cáo Lê Trương Phước H phải nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng và Nguyễn Quang H1 phải nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

6 Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi vụ số 686/2021 Bình Thạnh và các chữ ký ghi tên Giám định viên Huỳnh Thanh Thảo, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tuấn, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm: tinh thể không màu có khối lượng 1,1960g, 01 mảnh giấy dùng để quấn quanh gói ma túy. Đây là chất ma túy và dụng cụ bị cáo mua bán ma túy trái phép không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh rêu số thuê bao 0797225923 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ số thuê bao 0358740751; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ số thuê bao 0938964414; 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario 150, biển số: 59S3-343.15; số khung: MH1KF4114LK944635; số máy: KF41E – 1947036 của bị cáo Phước H. Đây là các phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc, thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Số tiền 24.380.000 đồng, là số tiền của bà Trương A X (mẹ ruột bị cáo Phước H). Bà X khai nhận ngày 22/4/2021 bà X đưa số tiền trên cho Phước H để đi trả tiền hàng giúp bà X, không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bà X.

- Số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Quang H1: Đây là số tiền thu lợi bất chính được từ việc mua bán trái phép chất ma túy của Quang H1 do Phước H đưa cho Quang H1 tại nhà Quang H1 nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Quang H1 thu lợi bất chính được 1.200.000 đồng, bị cáo Lê Trương Phước H1 chưa thu lợi bất chính. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo Nguyễn Quang H1 nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với đối tượng Trịnh Trung a, Phạm Thanh T đều không thừa nhận việc mua bán trái phép chất ma túy với Nguyễn Quang H1, không thu giữ được chất ma túy. Cơ quan điều tra cũng không thu thập được chứng cứ nào khác để chứng minh a, T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên không xử lý là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Đối với đối tượng tên T, hiện không rõ nhân thân lai li ̣ch nên Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Trương Phước H và Nguyễn Quang H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

1.1. Áp dụng điểm b, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Lê Trương Phước H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 22/4/2021.

Phạt bị cáo Lê Trương Phước H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là hình phạt bổ sung để nộp ngân sách nhà nước.

Kể từ khi cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án đối với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà bị cáo Lê Trương Phước H phải nộp phạt bổ sung, nếu bị cáo chậm thi hành khoản tiền trên thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

1.2. Áp dụng điểm b, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang H1 08 (tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 23/4/2021.

Phạt bị cáo Nguyễn Quang H1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là hình phạt bổ sung để nộp ngân sách nhà nước.

Kể từ khi cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án đối với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà bị cáo Nguyễn Quang H1 phải nộp phạt bổ sung, nếu bị cáo chậm thi hành khoản tiền trên thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Căn cứ vào điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi vụ số 686/2021 Bình Thạnh và các chữ ký ghi tên Giám định viên Huỳnh Thanh Thảo, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tuấn, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm: tinh thể không màu có khối lượng 1,1960g, 01 mảnh giấy dùng để quấn quanh gói ma túy.

- Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 1.200.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh rêu số thuê bao 0797225923 (không kiểm tra tình trạng hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ số thuê bao 0358740751 (không kiểm tra tình trạng hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ số thuê bao 0938964414 (không kiểm tra tình trạng hoạt động); 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario 150, biển số: 59S3-343.15; số khung: MH1KF4114LK944635; số máy: KF41E – 1947036, số loại: VARIO 150, loại xe: xe 02 bánh từ 50-175 cm3, màu sơn xanh đen, dung tích xi lanh: 149,32 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).

- Tuyên trả lại cho bà Trương A X số tiền 24.380.000 đồng.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Quang H1 phải nộp lại tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo Lê Trương Phước Huy và Nguyễn Quang H1 phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ