- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Minh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HSST Ngày 04/3/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG CHÀ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hƣng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khoàng Văn Hặc
2. Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phìn Đại Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở TAND huyện MC, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân huyện MC số: 14/2022/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 02 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/HSST - QĐ ngày 24/2/2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/TB -TA ngày 02/3/2022 đối với bị cáo:
Giàng A M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984, tại huyện MC, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản HC1, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Giống Ph và bà Vừ Thị Ch; vợ: Sùng Thị B; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/12/2021, tạm giam từ ngày 24/12/2021. Có mặt.
Ngƣời bào chữa: Bà Hà Thị Thuận - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 15/12/2021 khi Giàng A M đang ở nhà của M tại Bản HC1, xã MTH, huyện MC thì có một người đàn ông tên là Phong (M không biết đầy đủ họ tên và địa chỉ) vào nhà gặp M hỏi mua Heroine sử dụng nhưng M bảo là không có. Sau đó, Phong có đưa cho M số tiền 200.000 đồng và bảo M đi mua chất ma túy về để Phong và M cùng sử dụng. M đồng ý rồi cầm tiền đi bộ đến nhà anh Lý Giống Thào ở bản Nậm Chim, xã MTH. Qua trao đổi M mua của Thào được 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, M đem gói Heroine về đến nhà rồi đặt gói Heroine để trên bàn uống nước và nói với Phong là gói Heroine của anh đây. Sau đó M đi lấy giấy bạc về để sử dụng ma túy thì thấy Phong đang sử dụng ma túy tại bàn uống nước trong nhà của M bằng hình thức hít. Vào hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện MC phối hợp với Công an xã MTH vào nhà của M kiểm tra, lợi dụng sơ hở Phong đã chạy thoát, còn gói Heroine vẫn để trên bàn uốngnước, sợ bị phát hiện, M dùng chân phải gạt gói Heroine rơi xuống gầm bàn nhưng đã bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng có khối lượng 0,24 gam, 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở và 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ.
Kết luận giám định số: 43/GĐ-PC09, ngày 23/12/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng A M là 0,24 gam. Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Cáo trạng số: 04/CT-VKSMC ngày 26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân, huyện MC, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Giàng A M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Giàng A M từ 1 năm 3 tháng tù đến 1 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy 0,182 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 bật lửa ga màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện MC đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo: Do bị cáo là người dân tộc, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên trình độ và nhận thức có phần hạn chế, có con còn nhỏ, là hộ nghèo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm do viện kiểm sát đề nghị để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, xem xét miễn án phí và hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. HĐXX thấy rằng lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng, kết quả giám định; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy đủ căn cứ để kết luận vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 15/12/2021, tại bản HC1, xã MTH, huyện MC, tổ công tác Công an huyện MC phối hợp với Công an xã MTH, phát hiện, bắt quả tang Giàng A M đang có hành vi cất giấu trái phép 0,24 gam Heroine. Mục đích Giàng A M cất giấu trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân.
HĐXX thấy rằng hành vi nêu trên của bị cáo Giàng A M là nguy hiểm cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do pháp luật quy định. Hành vi tàng trữ 0,24 gam Heroine của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện MC truy tố và kết luận bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
2. Xét về tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình hình tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, mặc dù pháp luật xử lý nghiêm M đối với các loại tội phạm này. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe và kinh tế của người sử dụng, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng đã làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận ăn năn hối hận hành vi phạm tội của bản thân. Bởi vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án (biên bản xác M thu nhập, tài sản) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập từ làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, các con còn nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sư sơ thẩm đối với bị cáo. HĐXX thấy rằng đề nghị của người bào chữa là có căn cứ nên cần chấp nhận một phần để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
3. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện MC, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân nhân huyện MC; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng với quy định của pháp luật.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS
Đối với 0,182 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 bật lửa ga màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
5. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A M do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.
Theo lời khai của bị cáo, Lý Giống Thào là người đã bán Heroine cho bị cáo. Trong quá trình điều tra đã xác M Thào không có mặt tại địa bàn, không biết đi đâu, làm gì, ở đâu. Ngoài ra không có chứng cứ khác để chứng M nên không đủ cơ sở để điều tra làm rõ. Đối với người đàn ông dân tộc thái tên là Phong là người đã đưa tiền cho M đi mua Heroine, khi tổ công tác phát hiện Phong đã chạy thoát, trong quá trình điều tra không xác M được nhân thân, lai lịch của Phong nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Nên HĐXX không xem xét trong cùng vụ án.
Đối với hành vi Phong sử dụng chất ma túy tại nhà bị cáo, do Phong tự ý sử dụng và cùng là người nghiện nên không xem xét xử lý đối với bị cáo về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Giàng A M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A M 1 năm 6 tháng (một năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì của Cơ quan CSĐT bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng bên trong có chứa: 0,182 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định; 02 mảnh giấy bạc trong đó một mảnh bị đốt cháy dở còn một mảnh bị hơ qua lửa, 01 bật lửa ga màu đỏ có chữ THONG NHAT và 01 phong bì niêm phong ban đầu.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện MC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện MC, tỉnh Điện Biên ngày 27/01/2022).
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với Giàng A M.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Giàng A M có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2022).
| Nơi nhận: - VKSND huyện MC - Nhà tạm giữ CA huyện MC - Cơ quan THAHS huyện MC - Cơ quan CSĐT Công an huyện MC; - Chi cục THADS huyện MC - Bị cáo, người bào chữa - Phòng KTNV TA tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - CA tỉnh Điện Biên; - UBND xã MTH - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Hƣng |