- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Tống Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng Tống Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày: 09-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khanh
Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Xà
Ông Lê Quang Nhuận
Bà Đỗ Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Ngọc Tuyến - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 14/11/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/HSST-QĐ, ngày 28/11/2022, Thông báo về việc mở lại phiên tòa sơ thẩm số 20/TB-TA ngày 05/12/2022 đối với bị cáo.
Giàng Tống Ph (tên gọi khác: Không) sinh ngày 20/11/1944, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Đ, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Lao D (đã chết); Con bà Tín Chang M (đã chết); Gia đình bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Có vợ là Ngải Lao M, sinh năm 1948 (đã chết) và có 05 con, con lớn nhất (đã chết), con nhỏ nhất sinh năm 1984; Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 1976 Giàng Tống Ph bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 42 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, ngày 18/6/1979 chấp hành xong, bị cáo đã được xóa án tích.
Năm 2013 Giàng Tống Ph bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 03/4/2015 chấp hành xong, bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/6/2022, tạm giam từ ngày 22/6/2022 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng Tống Ph: Bà Lê Thị Xuân, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).
- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Giàng A Chù - Sinh năm 2000; Địa chỉ: Đội 19, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 11/6/2022 Giàng Tống Ph mang theo số tiền 1.500.000đồng đi lên khu vực ngã 3, km 45 Quốc lộ 04H thuộc bản Mạy Hốc, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, Ph không biết tên, địa chỉ người đó ở đâu và mua 03 cục Heroine với giá 1.500.000đồng, 03 cục Heroine được đựng trong 01 chiếc tất, Ph cất vào trong túi áo đang mặc. Mục đích Ph mua Heroine về để chữa bệnh cho gia súc, gia cầm. Ph đi bộ về đến một căn nhà hoang, đối diện với Trạm y tế xã Phìn Hồ cách nhà Ph khoảng 02 km, Ph bỏ chiếc tất có chứa 03 cục Heroine ra, Ph lấy 01 cục Heroine ra trích một ít thành 03 gói nhỏ, 03 cục Heroine mua được Ph cất giấu vào bụi cỏ trong góc nhà hoang, sau đó cầm 03 gói nhỏ Heroine vừa chia ra cầm trên tay rồi đi về, đến nhà Ph lấy một chiếc lọ nhựa cho 03 gói Heroine vào trong và đặt lên trên chiếc hòm tôn trong phòng ngủ. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/6/2022 Ph một mình đi bộ ra nhà hoang lấy chiếc tất chứa Heroine cho vào túi áo đang mặc rồi đi bộ về cách nhà Ph khoảng 01 km thì gặp tổ công tác Công an xã Phìn Hồ phối hợp với Công an huyện Nậm Pồ, Đồn biên phòng Si Pha Phìn yêu cầu kiểm tra, Ph lấy chiếc tất chứa Heroine ra giao nộp cho tổ công tác 03 cục Heroine của Ph có tổng khối lượng 121,27 gam. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Pồ khám xét nơi ở của Ph thu giữ 03 gói Heroine trong chiếc lọ nhựa để trên chiếc hòm tôn trong phòng ngủ có tổng khối lượng 0,23 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 23/6/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng Tống Ph là 121,5 gam.
- 04 mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Tống Ph gửi đến giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Bản Cáo trạng số 83/CT-VKS-P1 ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố Giàng Tống Ph để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, Điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Giàng Tống Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm o, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Giàng Tống Ph 15 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 120,32 gam Heroine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Tống Ph.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo lúc phạm tội đã trên 70 tuổi và mục đích mua ma túy về để chữa trị cho gia súc, gia cầm và đã bị cơ quan chức năng kịp thời thu giữ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Giàng Tống Ph, đề nghị xử phạt bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội và không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không bổ sung thêm bài bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng bị cáo Giàng Tống Ph thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo do tuổi cao, sức yếu, mục đích mua ma túy về chữa trị cho gia súc, gia cầm, xin được áp dụng hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo để bị cáo cải tạo sớm được về với gia đình và nếu có chết thì được chết tại nhà làm ma theo phong tục địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 06 giờ 50 phút, ngày 13/6/2022 bị cáo bị tổ công tác Công an xã Phìn Hồ, phối hợp với Công an huyện Nậm Pồ, Đồn biên phòng Si Pha Phìn làm nhiệm vụ tại khu vực km số 41 + 280 quốc lộ 4H thuộc bản Đệ Tinh 2, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang bị cáo tàng trữ trái phép 121,27 gam Heroine và khám xét thu giữ tại nhà của bị cáo 0,23 gam Heroine. Mục đích để chữa bệnh cho gia súc, gia cầm.
Lời khai nhận tội của bị cáo Ph hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 72-73); biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 74-77); kết luận giám định (BL 79) và Ph hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để xác định ngày 13/6/2022 bị cáo Giàng Tống Ph đã có hành vi tàng trữ trái phép 121,5 gam Heroine.
Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
…b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Cáo trạng 83/CT-VKSTĐB-P1, ngày 25/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để chữa trị cho gia súc, gia cầm là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác, ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, năm 2013 chính bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo đã 78 tuổi; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc hình phạt tù Ph hợp với điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo; bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế; điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị của người bào chữa là có căn cứ để chấp nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ Ph hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo với mục đích để chữa trị cho gia súc, gia cầm đã được các cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời chưa gây hậu quả gì cho xã hội; bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải là đối tượng nghiện ma túy, phạm tội không vì mục đích vụ lợi, lúc phạm tội bị cáo đã 78 tuổi; do tuổi cao, sức yếu, đi lại khó khăn, tại phiên tòa bị cáo không thể đứng khai báo được mà phải xin Hội đồng xét xử cho phép bị cáo ngồi. Do vậy, khi áp dụng hình phạt cần xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là Ph hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình, xã hội vừa đảm bảo sự trừng phạt nghiêm khắc đối với người phạm tội, nhưng đồng thời thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội là người trên 70 tuổi già yếu và người biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo đã già yếu, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn; nếu có áp dụng thì bị cáo cũng không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã Phìn Hồ, Công an huyện Nậm Pồ, Đồn biên phòng Si Pha Phìn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, Ph hợp với các quy định của pháp luật.
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Vật chứng vụ án là 120,32 gam Heroine Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Các vấn đề khác:
Theo lời khai của bị cáo, đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng Tống Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s, o khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Giàng Tống Ph 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2022.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 120,32 gam Heroine, gói nilon cũ, lọ nhựa, chiếc tất vải và phong bì niêm phong cũ.
(Theo Biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 26/10/2022 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/12/2022)./.
| Nơi nhận: - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên (PC04); - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - UBND xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên (để thông báo); - Vụ Giám đốc kiểm tra I, Tòa án nhân dân tối cao; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HCTP-Sở Tư pháp; - Phòng HSNV, Công an tỉnh (PV06); - Lưu: HSVA, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Văn Khanh |