vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử ph t: Đỗ Văn T 01 (một) năm tù. Thời h n tù đ ợc tính từ ngày 25/12/2021. Về xử l vật chứng: p dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Tửng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN T
TỈNH LONG A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HS-ST
Ngày: 22-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN T – TỈNH LONG A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc A

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Vĩnh L

Bà Nguyễn Ngọc N

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiếu L – Th

T a án nh n d n huy n T n Th nh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân T tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn T – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022 t i Trụ sở T a án nh n d n huy n Tân T, tiến hành xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ l số: 08/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022, đối với:

Bị cáo: Đỗ Văn T, sinh ngày 01/01/1987; Nơi sinh: Tân T, Long A; Nơi c trú: Ấp Tr ơng Công Ý, xã Tân L, huy n Tân T, tỉnh Long A; Nghề nghi p: làm thuê; Trình độ học vấn: hông biết chữ; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Vi t Nam; con ông Đỗ Văn Đ và bà Tr ơng Thị T; Vợ: Bùi Thị Thúy A, sinh năm 1990; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: không, tiền sự: Ngày 24/9/2021 bị Công an xã Tân L, huy n Tân T, tỉnh Long A ra quyết định xử ph t vi ph m hành chính số 11/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 750.000đ; bị t m giữ từ ngày 25/12/2021, chuyển t m giam từ ngày 04/01/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm: 1961. Nơi c trú: Ấp Tr ơng Công Ý, xã Tân L, huy n Tân T, tỉnh Long A (có mặt).

+ Bà Tr ơng Thị T, sinh năm: 1961. Nơi c trú: Ấp Tr ơng Công Ý, xã Tân L, huy n Tân T, tỉnh Long A (có mặt)..

+ Anh Nguyễn Trung K, sinh ngày: 18/06/2002. Nơi c trú: Ấp Hi p Thành, xã Tân B, huy n Tân T, tỉnh Long A (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Vào năm 2019, T làm thuê t i Thành phố Hồ Chí Minh, quen biết một ng ời đàn ông ( hông rõ nh n th n, lai lịch) ch y xe ôm t i Bến xe Miền Đông, ng ời đàn ông trên cho T số đi n tho i để liên l c mua ma tu hi có nhu cầu sử dụng ma tu . Đến đầu năm 2020, T nghỉ làm t i Thành phố Hồ Chí Minh về nhà ông Đỗ Văn Đ thuộc ấp Tr ơng Công Ý, xã Tân L, huy n Tân T, tỉnh Long A sinh sống. Trong hoảng thời gian sống t i nhà ông Đ, T nhiều lần đi n tho i liên l c với ng ời đàn ông quen biết t i thành phố Hồ Chí Minh đặt mua từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng ma tu đá, đem về nhà ông Đ cất giấu d ới ch n tủ l nh và lén lút sử dụng một mình t i nhà sau của ông Đ, các gói nylon đựng ma túy hi sử dụng xong c n l i một ít ma tu T đem cất giấu l i d ới ch n tủ l nh. Tr ớc ngày 25/12/2021, hoảng 07 ngày, T sử dụng đi n tho i di động hi u No ia màu xanh, gắn sim số 0973.791.113 liên l c qua số đi n tho i của ng ời đàn ông quen biết t i thành phố Hồ Chí Minh đặt mua ma túy. T bắt xe hách đến hu vực phía ngoài Bến xe Miền Đông nhận 02 gói ma tu : 01 gói giá 100.000 đồng và 01 gói giá 200.000 đồng. Sau đó, T bắt xe về nhà ông Đ và cất giấu ma túy d ới ch n tủ l nh mục đích để sử dụng. Vào chiều ngày 25/12/2021, Lê Thanh Hùng đem ma túy đá của Hùng đến rủ T cùng sử dụng t i nhà sau của ông Đ. Sau khi Hùng, T sử dụng ma tu xong thì Hùng đi về. Đến tối cùng ngày Nguyễn Trung K đến nhà ông Đ gặp T nhờ T mua ma túy đá dùm cho Kiên để Kiên sử dụng nh ng T không đồng nên Kiên ở l i nhà T chơi. Đến hoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Tân T tiến hành hám xét hẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn T t i nhà ông Đỗ Văn Đ, phát hi n và thu giữ d ới ch n tủ l nh t i nhà ông Đ 02 gói nylong đ ợc hàn ín hai đầu và 06 gói nylong đ ợc hàn ín ba c nh, hở một c nh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, d ng rắn, nghi là ma tu .

T i Bản Kết luận giám định số 1099/2021/KLGĐ ngày 03/01/2022 của Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long A ết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 gói nylon hàn ín và Tinh thể màu trắng đựng trong 06 gói nylon hàn ín ba c nh, hở một c nh, đ ợc niêm phong gửi giám định là ma tu , có tổng hối l ợng 0,1512 gam, lo i Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định có hối l ợng 0,0573 gam, đ ợc đóng gói niêm phong số 1099.

T i bản cáo tr ng số: 08/CT-VKSTT, ngày 20/6/2022 của Vi n iểm sát nh n d n huy n Tân T truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Đ i di n Vi n iểm sát giữ quyền công tố t i phiên t a vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đồng thời ph n tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi ph m tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự xử ph t bị cáo Đỗ Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, 47 Bộ luật hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy chất tinh thể màu trắng lo i Methamphetamine, mẫu c n l i sau giám định có hối l ợng: 0,0573 gam, đ ợc đóng gói niêm phong số 1099 và - 01 bình nhựa có chiều cao 21cm, bên trong có đo n ống nhựa màu xanh dài 9,8cm và 01 ống thủy tinh dài 09cm của bị cáo dùng để sử dụng chất ma tu ;

Tịch thu sung nộp ng n sách nhà n ớc: 01 đi n tho i di động hi u Nokia màu xanh, bàn phím bấm số, số sê ri 1: 357745106889370, số sê ri 2: 357745108889378, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số: 0973.791.113 của bị cáo đã sử dụng làm ph ơng ti n thực hi n hành vi ph m tội;

Hoàn trả cho bà Tr ơng Thị Thủy 01 đi n tho i di động hi u No ia màu đen, bàn phím bấm số, số sê ri 1: 353147111770915, số sê ri 2: 353147116770910, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số: 0345.372.917.

Đối với 01 dụng cụ ích đi n có vỏ ngoài bằng gỗ có chiều dài 17cm; 01 dụng cụ ích đi n có vỏ ngoài bằng gỗ có chiều dài 22cm; 01 dụng cụ ích đi n có vỏ bằng im lo i màu trằng b c có chiều dài 19,5cm tình tr ng cũ, đã qua sử dụng bị cáo hông yêu cầu nhận l i nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị hoàn trả cho bị cáo số tiền 2.700.000 đồng do hông sử dụng vào vi c ph m tội.

Bị cáo thừa nhận hành vi ph m tội nh cáo tr ng và quan điểm luận tội do đ i di n Vi n iểm sát đã nêu. Bị cáo hông có iến tranh luận.

T i lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình ph t do bị cáo c n có con nhỏ, có cha mẹ già yếu, đang bị b nh; hoàn cảnh gia đình hó hăn, bị cáo cam ết hông thực hi n hành vi ph m pháp luật nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Tân T, Điều tra viên, Vi n iểm sát nh n d n huy n Tân T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã đ ợc thực hi n đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng hác hông có ng ời nào có iến hoặc hiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng thực hi n đều phù hợp quy định pháp luật.

T i phiên t a, bị cáo Đỗ Văn T hai nhận hành vi ph m tội của mình nh nội dụng bản cáo tr ng, phù hợp với lời hai của bị cáo t i Cơ quan điều tra và các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra t i phiên t a. Có đủ cơ sở xác định đ ợc: Bị cáo th ờng sử dụng phép chất ma túy nên đã mua ma túy về cất giấu t i nhà của ông Đỗ Văn Đ để sử dụng. Vào hoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày 25/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Tân T tiến hành hám xét hẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn T t i nhà ông Đ, phát hi n Đỗ Văn T cất giấu tang vật gồm: 02 gói nylon hàn ín hai đầu và 06 gói nylon hàn ín ba c nh, hở một c nh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, d ng rắn nên thu giữ tang vật trên, đ ợc niêm phong gửi giám định. T i Bản Kết luận giám định số 1099/2021/KLGĐ ngày 03/01/2022 của Ph ng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long A ết luận vật chứng thu giữ nêu trên là ma tu , có tổng hối l ợng 0,1512 gam, lo i Methamphetamine. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi d n sự, bị cáo nhận thức đ ợc tác h i của ma túy và biết hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nh ng vẫn thực hi n hành vi mua ma túy về cất giấu để sử dụng và bị phát hi n bắt quả tang. Trọng l ợng ma túy trên 0,1g nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội ph m và hình ph t đ ợc quy định t i điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Nh vậy, cáo tr ng của Vi n iểm sát nh n d n huy n Tân T, tỉnh Long A truy tố bị cáo Đỗ Văn T với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, trái pháp luật, bị cáo biết ma tu là chất độc h i, g y nghi n, làm tổn h i nghiêm trọng đến sức hỏe, tinh thần và thể chất con ng ời nên Nhà n ớc thống nhất quản l và nghiêm cấm các hành vi nh sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tu , nh ng bị cáo vẫn bất chấp thực hi n hành vi ph m tội. Hành vi của bị cáo đ ợc thực hi n do lỗi cố trực tiếp, đã x m ph m chính sách độc quyền quản l của Nhà n ớc đối với các chất ma tu , ngoài ra vi c sử dụng ma túy là một trong các tác nh n g y ra các t n n xã hội, g y mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử l bị cáo bằng một hình ph t thoả đáng mới có thể giáo dục và ph ng ngừa chung trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi ph m tội do bị cáo thực hi n, nh n th n của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự theo quy định t i Điều 52 Bộ luật hình sự: Bị cáo hông có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải đ ợc nên đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định t i điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên c nh đó, xét thấy bị cáo có cha làm công tác d n công hỏa tuyến, làm nhi m vụ quốc tế; bị cáo có bà là mẹ Vi t Nam anh hùng; bị cáo hông biết chữ nên trình độ nhận thức pháp luật thấp; hoàn cảnh gia đình bị cáo hó hăn; cha mẹ của bị cáo lớn tuổi, mẹ bị b nh tai biến; bị cáo có 03 con ch a thành niên, con lớn nhất sinh năm 2009 nhỏ nhất mới sinh năm 2021. Do đó, xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đ ợc quy định t i hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo ch a có tiền án nh ng có một tiền sự: ngày 24/9/2021 bị cáo đã bị Công an xã Tân L, huy n Tân T, tỉnh Long A xử ph t vi ph m hành chính t i Quyết định số 11/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, sau đó bị cáo hông sửa đổi, bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 25/12/2021 do Lê Thanh Hùng mang đến. Đồng thời, bị cáo c n mua ma túy về tàng trữ để dành sử dụng trái phép. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo ch a có thức hắc phục, sửa chữa vi ph m, ch a có thức chấp hành pháp luật tốt. Do đó, xét thấy cần cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo trừng trị, giáo dục và ph ng ngừa chung.

Từ ph n tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình ph t tù đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình ph t bổ sung: đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo c n có thể bị ph t tiền theo hoản 5 điều 249 BLHS. Tuy nhiên, xét thấy hoàn cảnh inh tế gia đình bị cáo có hó hăn, hông có tài sản, bị cáo có nghề nghi p làm thuê, thu nhập hông ổn định; phải nuôi con nhỏ nên hông áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối với bị cáo.

Đối với ng ời đàn ông ( hông rõ nh n th n, lai lịch) bán trái phép chất ma túy cho T, T hông biết rõ nh n th n, lai lịch của đối t ợng trên, sau hi liên l c với đối t ợng trên T đã xoá nội dung dữ li u cuộc gọi và hông l u số đi n tho i của đối t ợng trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Tân T không xác định đ ợc nh n th n, lai lịch của ng ời này nên hông có cơ sở xem xét, xử l theo quy định pháp luật.

Đối với ông Đỗ Văn Đ và bà Tr ơng Thị Thuỷ (cha, mẹ ruột của T) là quản l , chủ sở hữu hợp pháp ngôi nhà mà T đang ở, ông Đ và bà Thuỷ hông biết vi c T cất giấu ma tu đá d ới ch n tủ l nh t i nhà ông Đ, bà Thuỷ, đồng thời hông biết vi c T sử dụng trái phép chất ma tu t i nhà sau của ông Đ, bà Thuỷ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Tân T hông xem xét, xử l là có căn cứ.

Đối với Đỗ Văn T có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tu ” vào chiều ngày 25/12/2021 cùng với Lê Thanh Hùng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huy n Tân T ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 09/5/2022 đối với Đỗ Văn T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tu ” với số tiền 1.500.000 đồng theo quy định t i hoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ. Theo lời hai của T vào ngày 25/12/2021, Lê Thanh Hùng có đem ma tu đến nhà ông Đ và rủ T cùng sử dụng nh ng hi n nay Hùng hông có mặt t i địa ph ơng, Cơ quan Cảnh sát điều tra ch a làm vi c đ ợc, hông ai biết Hùng đang ở đ u nên tiếp tục xác minh, truy tìm để xem xét xử l .

Đối với Nguyễn Trung K, Hồ Gia Cô, Trần Anh Tuấn hai vào năm 2020, 2021 có sử dụng ma túy cùng với Đỗ Văn T nh ng hông xác định cụ thể thời gian và địa điểm sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra hông có cơ sở, tài li u, chứng cứ chứng minh hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tu ” của T, Kiên, Cô, Tuấn nên hông xem xét xử l và ra văn bản số 86/CSĐT-KTMT ngày 20/5/2022 đề nghị Công an xã Tân L xem xét lập hồ sơ xử l vi ph m hành chính các đối t ợng trên về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tu ” theo thẩm quyền.

Về vật chứng: căn cứ quy định t i Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, xử l vật chứng nh sau:

Chất tinh thể màu trắng lo i Methamphetamine, mẫu c n l i sau giám định có hối l ợng: 0,0573 gam, đ ợc đóng gói niêm phong số 1099 và - 01 bình nhựa có chiều cao 21cm, bên trong có đo n ống nhựa màu xanh dài 9,8cm và 01 ống thủy tinh dài 09cm của bị cáo dùng để sử dụng chất ma tu . Bị cáo tàng trữ để sử dụng trái phép nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đi n tho i di động hi u No ia màu xanh, bàn phím bấm số, số sê ri 1: 357745106889370, số sê ri 2: 357745108889378, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số: 0973.791.113 của bị cáo đã sử dụng làm ph ơng ti n thực hi n hành vi ph m tội nên tịch thu sung nộp ng n sách nhà n ớc.

Đối với 01 đi n tho i di động hi u No ia màu đen, bàn phím bấm số, số sê ri 1: 353147111770915, số sê ri 2: 353147116770910, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số: 0345.372.917 là của bà Tr ơng Thị Thủy, là mẹ của bị cáo nên cần giao trả l i cho bà Thủy.

Đối với 01 dụng cụ ích đi n có vỏ ngoài bằng gỗ có chiều dài 17cm; 01 dụng cụ ích đi n có vỏ ngoài bằng gỗ có chiều dài 22cm; 01 dụng cụ ích đi n có vỏ bằng im lo i màu trằng b c có chiều dài 19,5cm; tình tr ng cũ, đã qua sử dụng hông liên quan đến hành vi ph m tội của bị cáo. T i phiên t a, bị cáo hông yêu cầu nhận l i do hông có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về số tiền 2.700.000 đồng, đ y là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo hông sử dụng vào vi c ph m tội nên hoàn trả cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử ph t: Đỗ Văn T 01 (một) năm tù. Thời h n tù đ ợc tính từ ngày 25/12/2021.

2. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục t m giam bị cáo 45 ngày ể từ ngày tuyên án (22/7/2022).

4. Về xử l vật chứng: p dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, 47 Bộ luật hình sự;

4.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng nh sau:

- Chất tinh thể màu trắng lo i Methamphetamine, mẫu c n l i sau giám định có hối l ợng: 0,0573 gam, đ ợc đóng gói niêm phong số 1099 và 01 bình nhựa có chiều cao 21cm, bên trong có đo n ống nhựa màu xanh dài 9,8cm và 01 ống thủy tinh dài 09cm.

- 01 dụng cụ ích đi n có vỏ ngoài bằng gỗ có chiều dài 17cm; 01 dụng cụ ích đi n có vỏ ngoài bằng gỗ có chiều dài 22cm; 01 dụng cụ ích đi n có vỏ bằng im lo i màu trằng b c có chiều dài 19,5cm tình tr ng cũ, đã qua sử dụng.

4.2. Tịch thu sung nộp ng n sách nhà n ớc: 01 đi n tho i di động hi u No ia màu xanh, bàn phím bấm số, số sê ri 1: 357745106889370, số sê ri 2: 357745108889378, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số: 0973.791.113.

4.3. Hoàn trả các tài sản nh sau:

- Hoàn trả cho bà Tr ơng Thị Thủy 01 đi n tho i di động hi u No ia màu đen, bàn phím bấm số, số sê ri 1: 353147111770915, số sê ri 2: 353147116770910, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số: 0345.372.917;

- Hoàn trả cho bị cáo Đỗ Văn T tiền 2.700.000 đồng (Hai tri u bảy trăm nghìn đồng).

Hi n tất cả vật chứng trên Chi cục thi hành án d n sự huy n Tân T đang t m giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKSTT, ngày 20/6/2022 của Vi n iểm sát nh n d n huy n Tân T và biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2022.

5. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án;

Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền háng cáo: p dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền háng cáo trong h n 15 ngày ể từ ngày tuyên án.

Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt t i phiên tòa có quyền háng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong h n 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt t i phiên t a có quyền háng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong h n 15 ngày ể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết.

Cỡ chữ