vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn c điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Lò Văn T 16 mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn c điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ lu t hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HS-ST
Ngày: 22-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu Trung tâm, Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Viễn.

2. Ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Viên – Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu Thành phần, Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã

- Những người tiến hành tố tụng: Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

- Người tham gia tố tụng:

+ Bị cáo: Lò Văn T.

+ Cán bộ, Chiễn sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Cầm Văn Khiêm, ông Lò Văn Quốc, ông Lường Văn Hoang.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại điểm cầu Trung tâm thuộc Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai v án hình sự th lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 10/11/2022, đối với bị cáo:

Lò Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1983; nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn N (đã chết) và con bà: Lò Thị M; vợ: Lò Thị T, có 03 người con: Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan: Bà Lò Thị T, sinh năm 1988 (vợ bị cáo). Trú tại: Bản N, xã B, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 08/8/2022, t công tác Công an xã B, huyện Sông Mã làm nhiêm v tại bản , xã B, huyện Sông Mã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đối tượng Lò Văn T SN 1983, cư trú tại bản N, xã B, Sông Mã, Sơn La có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. V t ch ng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay trái Lò Văn T 01 gói Nilon màu xanh bên trong có ch a chất bột liên kết màu trắng ngà theo T khai nh n là Heroine). T công tác đã l p biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong v t ch ng. Ngoài ra còn tạm giữ c a T 01 xe mô tô nhãn hiệu M H , loại Sirius, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 26B1- 896.03.

Ngày 09/8/2022, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng m niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích m u giám định v t ch ng, kết quả: Cân tịnh số chất bột liên kết màu trắng ngà thu giữ c a Lò Văn T có t ng khối lượng 0,14 gam, trích 0,03 gam làm m u giám định lấy ký hiệu T, v t ch ng còn lại 0,11 gam lấy ký hiệu L.

Kết lu n giám định số 1353/KL-KTHS ngày 10/8/2022 c a hòng k thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết lu n: M u g i giám định ký hi u T là ma tuý, lo i Heroine kh i lượng m u giám định là , gam. T ng kh i lượng ma tuý thu giữ là , gam lo i Heroine .

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 08/8/2022, Lò Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu

M H , BKS 26B1- 896.03 c a gia đình và mang theo số tiền 100.000VNĐ đi từ nhà bản N, xã B, Sông Mã đến xã Mường Luân, huyện Đ, tỉnh Đ để T người thân. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày trên đường đi đến bản N, xã L, Điện Biên Đông thì gặp và hỏi mua được c a một người đàn ông người dân tộc Xinh Mun không quen biết đang đ ng ven đường 01 gói nhỏ Heroine với giá 100.000VNĐ, mua bán xong T cầm gói ma tuý để trong lòng bàn tay trái, T sợ nếu tiếp t c đi sang xã L thăm người thân thì sợ gặp công an nên T không đi nữa mà quay về nhà. Khi đang trên đường đi về đến bản , xã B Sông Mã, Sơn La thì bị t công tác Công an xã B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang v t như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 149/CT-VKSSM ngày 17 tháng 10 năm 2022 c a Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên v n giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ lu t hình sự. hạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt b sung là phạt tiền) và án phí; v t ch ng xử lý theo quy định c a pháp lu t; bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan không có ý kiến tranh lu n; đều có ý kiến đề nghị xin lại chiếc xe mô tô để sử d ng. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th t c quy định c a Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về ch ng c xác định tội danh:

- Hồi 12 giờ 00 phút ngày 08/8/2022, t công tác Công an xã B, huyện Sông Mã làm nhiệm tại bản Phống II, xã Bó Sinh phát hiện bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi Tang trữ trái phép chất ma tuý. V t ch ng thu giữ được tại lòng bàn tay trái c a T 01 gói Nilon màu xanh, bên trong ch a chất bột liên kết màu trắng, theo kết lu n giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,14gam, m c đích Tàng trữ để sử d ng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội c a mình; lời khai nh n hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai c a người làm ch ng; lời khai nh n c a bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh c a bản Cáo trạng cùng các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh lu n không phát sinh tình tiết mới. Như v y, Hội đồng xét xử có cơ s kết lu n: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự. Do đó, kh i tố c a cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm c a Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn c , đúng pháp lu t.

Xét tính chất, m c độ hành vi c a bị cáo: Hành vi phạm tội c a bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền c a Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi c a bị cáo gây mất tr t tự trị an tại địa phương, gây b c xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp lu t nhưng v n thực hiện. Do đó, cần có m c hình phạt tương x ng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự.

5] Về vấn đề khác liên quan trong v án: Đối với người đàn ông dân tộc Xinh Mun theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại địa ph n bản N, xã L, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn c , cần chấp nh n.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu M H , loại xe Sirius màu sơn đỏ

- đen, biển kiểm soát 26B1- 896.03, Lò Văn T sử d ng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản chung hợp pháp c a vợ, chồng Lò Văn T. Kết quả tra c u chiếc xe trên không có trong cơ s dữ liệu xe máy v t ch ng.

- Tại phiên toà, vợ bị cáo bà Lò Thị T có ý kiến: Chiếc xe mô tô là phương tiện duy nhất để ph c v cuộc sống c a gia đình. Khi bị cáo sử d ng đi phạm tội thì bà không biết và không liên quan. Nay đề nghị xin lại tài sản là chiếc xe mô tô. Do v y, cần xem xét trả lại xe cho người có quyền lợi, nghĩa v liên quan.

6] V t ch ng c a v án còn lại: 01 một) phong bì thư niêm phong bên trong có ch a: 01 túi Nilon màu trắng ch a 0,11 gam Heroine; 01 mảnh Nilon màu xanh; 01 phong bì thư niêm phong v t ch ng ban đầu đã bóc m là v t cấm lưu hành và v t không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt b sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình phạt b sung là phạt tiền) và án phí.

Đối với quan điểm đề xuất c a Kiểm sát viên về m c án đối với bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc nhằm đưa ra m c án tương x ng, phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn c điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Văn T 16 mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2022.

Không áp d ng hình phạt b sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn c điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ lu t hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố t ng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ các đồ v t: 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín, ch a: 01 túi Nilon màu trắng ch a v t ch ng lưu kho ký hiệu L= 0,11 gam Heroine, 01 mảnh Nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu đã bóc m .

- Trả lại cho bà Lò Thị T 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SIRIUS, màu sơn đỏ-đen; BKS: 26B1-896.03; xe không có gương chiếu h u; phần vỏ nhựa c a xe bị xước, vỡ nhiều chỗ; số khung: 041775; số máy: 041429; không kiểm tra máy móc bên trong; xe đã qua sử d ng và cũ nát.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng s 140 ngày 17/10/2 22 của Vi n kiểm sát huy n Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huy n Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn c các Điều 331, 333 Bộ lu t tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 22/11/2022.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ