vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 11/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Hoàng Quang M cho UBND xã P, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

TAND Thành phố Hà Nội; VKSND huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "minh - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hoàng Quang M cho UBND xã P, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 17/2022/HS-ST
Ngày: 11 - 5- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mạnh và ông Lê Nam Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 4 năm 2022, đối với: Bị cáo: Hoàng Quang M, sinh năm 1969 tại huyện P, Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú và sinh sống: Thôn E, xã P, huyện P, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; là đảng viên Đ; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Hoàng Văn C (c) và bà Đỗ Thị H; có vợ là Dương Thị H1 và có 02 con; danh bản số 038 lập ngày 17/01/2022 tại Công an huyện P, Thành phố Hà Nội; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2021 đến ngày 31/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có ý định nuôi rắn để tăng thêm thu nhập nên khoảng tháng 04 năm 2019 Hoàng Quang M có mua 10 quả trứng rắn hổ mang phì với giá 120.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết, đi rao bán rong qua nhà. M mang trứng về nhà,

- 1 -

ấp bằng cát và làm chuồng gỗ để nuôi, nhốt rắn tại nhà kho trên thửa đất ở của gia đình. Số trứng trên ấp nở được 10 cá thể rắn,trong đó có 09 con là loại rắn hổ mang phì và 01 con là rắn hổ chúa. M biết rõ loài rắn hổ chúa là loài động vật quý, hiếm Nhà nước cấm nuôi, nhốt. M không cho ai biết, không nói chuyện với ai. Đến tháng 8 năm 2021, M bán 09 con rắn hổ mang phì, còn lại 01 cá thể rắn hổ chúa, M giữ lại để nuôi với mục đích cho sinh sản, lấy trứng rắn.

Khoảng 06 giờ 00 ngày 29 tháng 12 năm 2021, M dậy mở cửa nhà kho để kiểm tra chuồng nuôi rắn và cho rắn hổ chúa ăn. M thấy một số thanh gỗ của lồng bị hỏng, do sợ rắn thoát ra ngoài nên M lấy một túi lưới xanh bắt con rắn hổ chúa nuôi trong lồng gỗ cho vào túi lưới, định mang ra ngoài nhà kho, để quay lại sửa lồng, thì bị tổ công tác của Công an huyện P phối hợp với Công an xã P đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đến kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang. Khi tổ công tác hỏi M đang xách túi lưới bên trong là rắn gì, M trả lời là rắn hổ chúa và tự giác giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, xác định đặc điểm, khối lượng vật chứng theo quy định của pháp luật. * Vật chứng thu giữ:

- 01 cá thể rắn còn sống dài khoảng 1,2 m trọng lượng là 2,5 kg thu giữ của Hoàng Quang M. M khai là rắn hổ chúa.

- 01 lồng gỗ hình hộp chữ nhật có kích thước: dài 92cm; rộng: 57cm; cao khoảng: 26cm, cửa lồng bằng gỗ có gắn tấm lưới sắt thu giữ của Hoàng Quang M. M khai nhận sử dụng lồng gỗ trên để nuôi, nhốt cá thể rắn hổ chúa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 14/ĐTKT-MT ngày 29/12/2021 đến Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật giám định mẫu vật cá thể động vật còn sống:

+ 01 cá thể động vật là rắn còn sống có đặc điểm: màu đen trắng, cổ họng có màu vàng nhạt, dài khoảng 1,2 m trọng lượng là 2,5 kg.

Tại kết luận giám định động vật số 1274/STTNSV ngày 31/12/2021 của V kết luận: 01 (một) cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ chúa, có tên khoa học là O hannah. Loài rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; Loài Rắn hổ chúa thuộc nhóm IB trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSPT ngày 11/4/202 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hoàng Quang M về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Hoàng Quang M về tội

- 2 -

“Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s,v khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Quang M từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Tịch thu tiêu hủy 01 lồng gỗ hình hộp chữ nhật M sử dụng để nuôi nhốt Rắn hổ chúa . Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Quang M không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Quang M đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp bản kết luận giám định động vật, cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng tháng 04 năm 2019 M đã mua 10 quả trứng rắn hổ mang phì của một người phụ nữ không quen biết, đi bán rong. Số trứng trên ấp nở được 09 con là loại rắn hổ mang phì và 01 con là rắn hổ chúa. Đến tháng 8 năm 2021, M bán 09 con rắn hổ mang phì, còn lại 01 cá thể rắn hổ chúa, M giữ lại để nuôi với mục đích cho sinh sản, lấy trứng rắn. Khoảng 06 giờ 00 ngày 29/12/2021, M mở cửa nhà kho để cho rắn hổ chúa ăn. M phát hiện một số thanh gỗ của lồng nhốt rắn bị hỏng nên M lấy một túi lưới xanh bắt con rắn hổ chúa cho vào túi lưới, mang ra ngoài nhà kho, để quay lại sửa lồng, thì bị tổ công tác của Công an huyện P phối hợp với Công an xã P đang làm nhiệm vụ tuần tra bắt quả tang. Theo kết luận giám định của V, Viện Hàn L khoa học và Công nghệ Việt Nam: loại Rắn hổ chúa (tên khoa học: Ophiophagus hannah) thuộc Phụ lục I trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ. Hành vi nêu trên của Hoàng Quang M đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật nêu trong cáo trạng và trong luận tội là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo vệ sự cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học của

- 3 -

các loài động vật hoang dã, quý, hiếm. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; trước khi bị bắt bị cáo là Bí thư chi bộ Thôn E, xã P; trong thời gian công tác đảng bị cáo được tặng nhiều giấy khen của Ban chấp hành Đảng bộ xã P, của Chủ tịch UBND xã P, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo có địa chỉ, nơi cư trú rõ ràng, thấy chưa cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà xử bị cáo hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

. Quá trình điều tra Hoàng Quang M khai khoảng tháng 04/2019 M mua 10 quả trứng rắn của một người phụ nữ không quen biết, đi bán rong tại khu vực Hồ G, thuộc Thôn E, xã P, huyện P mang về ấp nở được 09 con rắn hổ mang phì và 01 cá thể rắn hổ chúa. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng làm rõ người phụ nữ đã bán trứng rắn cho M nên không có căn cứ để xử lý. Hoàng Văn M1 nuôi, nhốt rắn hổ chúa trong nhà kho có cửa riêng, lối vào riêng. Trong gia đình chỉ có M1 mới có chìa khóa phòng kho. M1 không cho ai biết, không nói chuyện với ai việc mình nuôi rắn. Chị Dương Thị H1 (vợ bị cáo) cùng các con không biết M1 nuôi, nhốt rắn hổ chúa nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng của vụ án

- 01 (một) cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ chúa, có tên khoa học là O hann. Sau khi có kết luận giám định động vật của V, Cơ quan điều tra Công an huyện P đã bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã tại địa chỉ: huyện S, thành phố Hà Nội, vì vậy không phải xử lý.

- 01 lồng gỗ hình hộp chữ nhật, cửa lồng bằng gỗ có gắn tấm lưới sắt M1 sử dụng lồng gỗ trên để nuôi, nhốt cá thể rắn hổ chúa nên tịch thu tiêu hủy [6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự Xử phạt: Bị cáo Hoàng Quang M: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- 4 -

Giao bị cáo Hoàng Quang M cho UBND xã P, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy: 01 lồng gỗ hình hộp chữ nhật có kích thước dài 92cm, rộng 57cm, cao khoảng 26cm, cửa lồng bằng gỗ có gắn tấm lưới sắt thu giữ của Hoàng Quang M.(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ với Công an huyện P, Thành phố Hà Nội lập ngày 14/4/2022). 3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ