- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Dương Thị H, Lê Thị Đ, Phan Thị M, Trần Văn L, Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày 13-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quân và ông Võ Sỹ Đàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/HSST-QĐ ngày 25/5/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn H; sinh ngày: 22/10/1991 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn Hải Đ, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện tại: Thôn Kỳ Đ, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Sửa chữa điện thoại; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ch – Sinh năm 1969 và bà Phan Thị B – Sinh năm 1971; Vợ Phạm Thị H – Sinh năm 1990 và 01 con sinh năm 2011; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ 02 ; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/10/2019, bị Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1954 xử phạt bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 29/10/2019; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/12/2021 đến ngày 10/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh tại xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Dương Thị H; sinh ngày: 10/7/1979 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn An L, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Ngọc Đ - Sinh năm 1955 và bà Trần Thị M – Sinh năm 1952; Chồng Phan Văn H – Sinh năm 1977 và 04 con (lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2006); Anh chị em ruột: Có 05 người, bị can là con thứ 03 tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/12/2019, bị UBND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4989 xử phạt bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 7.500.000 đồng về hành vi “Dùng nhà ở của mình để chứa bạc”. Chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 12/12/2019; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2021 đến ngày 13/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh tại xã Cổ Đạm hiện đang tại ngoại tại xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Lê Thị Đ; sinh ngày: 20/10/1987 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn An Phúc L, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th – Sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Q - Sinh năm 1953; Chồng Trần Văn Đ – Sinh năm 1983 và 02 con (Lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019); Anh chị em ruột: Có 07 người, bị can là con thứ 6 ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Phan Thị M; sinh ngày: 18/5/1984 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn An Phúc L, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ở hiện tại: Thôn Vân Thanh B, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Công H sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị X sinh năm 1953; Chồng Hồ Quốc Đ sinh năm 1983 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2009); Anh chị em ruột: Có 05 người, bị can là con thứ 04 ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Trần Văn L; sinh ngày: 12/7/1976 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn Thành S, xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ở hiện tại: Thôn Thành H, xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã mất) và bà Nguyễn Thị D – Sinh năm 1949; Vợ Phan Thị Thùy Dung – Sinh năm 1980 và 03 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013); Anh chị em ruột: Có 05 người, bị can là con thứ 03 ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2021 đến ngày 13/01/2022 được thay thế biện ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh tại xã Cổ Đạm; có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Nguyễn Thị H; sinh ngày: 11/8/1987 tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Thôn An L, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc B (Đã mất) và bà Nguyễn Thị V – Sinh năm 1956; Chồng Trần Quốc L – Sinh năm 1974 và 01 con sinh năm 2019; Anh chị em ruột: Không có ai; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn H : Bà Phan Thị B – Sinh năm 1971 (mẹ đẻ); có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H: Bà Đinh Thị Hiền – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh ; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phạm Thanh T – Sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn Thành T, xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Phan Thị Thùy D – Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Thành H, xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
2. Trần Văn Ph – Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn An L, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
3. Phan Văn H – Sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn An L, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 11/2021, do có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước nên Trần Văn L chủ động liên hệ với Dương Thị H để đánh lô, đề với H. Sau đó, Dương Thị H, Nguyễn Thị H, Phan Thị M và Lê Thị Đ đã chủ động liên hệ với Trần Văn H để đánh lô, đề với H. Các bị cáo đánh bạc với nhau dưới hình thức ghi lô, đề nhằm mục đích thu lợi bất chính phục vụ việc chi tiêu cá nhân.
Việc đánh bạc dưới hình thức đánh lô, đề căn cứ vào kết quả xổ số miền Bắc được mở thưởng từ 18h15 đến 18h30 hàng ngày để tính thắng, thua. Trong đó, “Đề” là đánh 02 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Đầu” là đánh số thứ 4 của giải đặc biệt; “Đít” là đánh số cuối cùng của giải đặc biệt; “Kép” là đánh 02 số cuối cùng của giải đặc biệt và 02 số này phải trùng nhau; “Tổng” là hình thức đánh 10 số “Đề” mà tổng của hai chữ số trong mỗi số “Đề” có chữ số tận cùng là số “Tổng” muốn đánh, ví dụ: “Tổng 4” bao gồm các số “Đề” 04, 40, 13, 31, 22, 59, 95, 68, 86, 77; “Ba càng” là đánh 03 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Xiên” gồm có “Xiên 2”, “Xiên 3”, “Xiên 4”, trong đó “Xiên 2” là đánh chuỗi 02 cặp số cuối cùng của tất cả các giải, “Xiên 3” là đánh chuỗi 03 cặp số cuối cùng của tất cả các giải và “Xiên 4” là đánh chuỗi 04 cặp số cuối cùng của tất cả các giải; “Lô” là đánh 02 số cuối cùng của tất cả các giải. Nếu người chơi đánh “Đề”, “Đầu”, “Đít”, “Kép”, “Tổng”, “Ba càng”, “Xiên”, “Lô” trùng với số tương ứng của kết quả xổ số mở thưởng trong ngày đánh thì thắng, không trùng thì thua. Tỷ lệ thắng được tính như sau: “Đề” là 1 ăn 70 lần; “Đầu”, “Đít”, “Kép”, “Tổng” là 1 ăn 7 lần; “Ba càng” là 1 ăn 300 lần; “Xiên 2” là 1 ăn 10 lần; “Xiên 3” là 1 ăn 40 lần và “Xiên 4” là 1 ăn 100 lần. “Lô” khi đánh được tính theo điểm, giá 1 điểm “Lô” tùy thỏa thuận giữa người chơi với người nhận ghi lô đề, tỷ lệ thắng là 1 điểm ăn 80.000đ.
Các bị cáo và người liên quan đến vụ án quy ước với nhau về giá đánh lô, đề như sau:
- Trần Văn H nhận ghi “Lô” cho Dương Thị H, Nguyễn Thị H và Lê Thị Đ với giá 21.800 đồng/điểm và với Phan Thị M là 21.700 đồng/điểm; những người này phải trả đúng số tiền “Đề”, “Đầu”, “Đít”, “Kép”, “Tổng”, “Ba càng” và “Xiên” mà họ đánh với H.
- Dương Thị H và Trần Văn L thỏa thuận với nhau là H nhận ghi “Lô” cho Long với giá 21.800 đồng/điểm, Long phải trả đúng số tiền “Đề”, “Đầu”, “Đít”, “Kép”, “Tổng”, “Ba càng” và “Xiên” đánh với H.
- Với những người khách đánh lô, đề khác thì các bị cáo đều nhận ghi “Lô” với giá 22.500 đồng/điểm và họ phải trả đúng số tiền “Đề”, “Đầu”, “Đít”, “Kép”, “Tổng”, “Ba càng” và “Xiên” mà họ đánh.
Căn cứ kết quả điều tra xác định:
* Trong ngày 03/12/2021: Lê Thị Đ nhận ghi, lô đề cho một số người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tổng cộng 1.040 điểm “Lô” với giá 22.500 đồng/điểm, 900.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền là 24.300.000 đồng. Trong thời gian từ 17h38 đến 18h06, Lê Thị Đ sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Lethidao” (được đăng ký bằng số điện thoại 0966153036) nhắn tin qua tài khoản Zalo mang tên “Iphone” (được đăng ký bằng số điện thoại 0862175304) của Trần Văn H để chuyển cho Hải 1.040 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm và 900.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền 23.572.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 03/12/2021, trong số các số lô, số đề mà Đ chuyển cho H có trúng 250 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 20.000.000 đồng. Như vậy, tang số đánh bạc của Lê Thị Đ là 44.300.000 đồng (Bốn tư triệu, ba trăm nghìn đồng), tang số đánh bạc của Trần Văn H là 43.572.000 đồng (Bốn ba triệu, năm trăm bảy hai nghìn đồng).
Số tiền Trần Văn H thắng và thu lợi bất chính là 3.572.000 đồng. Lê Thị Đ thu lợi bất chính số tiền 728.000 đồng là tiền chênh lệch giá lô giữa khách đánh với Hải (700đ/điểm). Sáng ngày 04/12/2021, H và Đ đã thanh toán số tiền trên cho nhau. Quá trình điều tra, cả Đ và H đều đã giao nộp lại số tiền được thu lợi bất chính từ việc ghi lô, đề nói trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân. Ngoài ra, Trần Văn H còn tự nguyện giao nộp số tiền 4.488.000 đồng H khai sử dụng để đánh bạc.
* Trong ngày 04/12/2021:
- Đối với bị cáo Trần Văn L: Trong thời gian từ 17h15 đến 17h17, Phạm Thanh T dùng tài khoản Zalo mang tên “Toàn Pham” (được đăng ký bằng số điện thoại 0867537128) nhắn tin đến tài khoản Zalo mang tên “Minh Long” (được đăng ký bằng số điện thoại 0979806576) của Trần Văn L đánh với Long 60 điểm “Lô” với giá 22.500 đồng/điểm, 210.000 đồng tiền “Đề” và 200.000 đồng tiền “Đầu 5”, tương ứng với số tiền là 1.760.000 đồng. Ngoài ra, L nhận ghi trực tiếp cho một số người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tổng cộng 445 điểm “Lô” với giá 22.500 đồng/điểm, 2.000.000 đồng tiền “Đề”, 200.000 đồng tiền “Đầu 6”, 300.000 đồng tiền “Đít 6”, 190.000 đồng tiền “Ba càng”, 900.000 đồng tiền “Xiên 2” và 150.000 đồng tiền “Xiên 3” tương ứng với số tiền 13.752.500 đồng. Tổng số tiền lô, đề mà L nhận ghi lô, đề cho T và những người lạ là 15.512.500 đồng. Trong các số lô, đề đã nhận, L tự lọc ra một số con rồi nhắn tin đánh với Dương Thị H 460 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm, 2.210.000 đồng tiền “Đề”, 200.000 đồng tiền “Đầu 5”, 200.000 đồng tiền “Đầu 6”, 300.000 đồng tiền “Đít 6”, 190.000 đồng tiền “Ba càng”, 900.000 đồng tiền “Xiên 2” và 150.000 đồng tiền “Xiên 3”, tương ứng với số tiền 14.178.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021: Trong các số lô, đề mà T đánh với L có trúng 10.000 đồng tiền “Đề” và 25 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 2.700.000 đồng; Trong các số lô, đề mà những người lạ đánh với L có trúng 40.000 đồng tiền “Đề” và 95 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 10.400.000 đồng. Như vậy, tang số đánh bạc của Phạm Thanh T là 4.460.000 đồng, tang số đánh bạc của Trần Văn L là 28.612.500 đồng (hai tám triệu, sáu trăm mười hai nghìn đồng).
Quá trình nhận ghi lô, đề nói trên, L chưa thanh toán tiền đánh và tiền thắng thua với T. Còn khi trực tiếp nhận ghi lô, đề cho những người lạ, L đã nhận từ những người này số tiền đánh lô, đề là 13.752.000 đồng. Tối ngày 04/12/2021, sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, có hai người trong số những người lạ đánh lô đề trúng 70 điểm “Lô” và 40.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền 8.400.000 đồng. Hai người này đã đến gặp L để nhận tiền trúng, nên số tiền còn lại mà L giữ là 5.352.500 đồng. Quá trình điều tra, Trần Văn L đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân. Phạm Thanh T tự nguyện giao nộp số tiền 1.760.000 đồng sử dụng để đánh bạc.
- Đối với bị cáo Dương Thị H: Từ 17h11 đến 18h08, Trần Văn L sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Minh Long” nhắn tin đến tài khoản Zalo mang tên “Bồ Câu Trắng” (được đăng ký bằng số điện thoại 0343746610) của Dương Thị H để đánh với H 460 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm, 2.210.000 đồng tiền “Đề”, 200.000 đồng tiền “Đầu 5”, 200.000 đồng tiền “Đầu 6”, 300.000 đồng tiền “Đít 6”, 190.000 đồng tiền “Ba càng”, 900.000 đồng tiền “Xiên 2” và 150.000 đồng tiền “Xiên 3”, tương ứng với số tiền 14.178.000 đồng. Ngoài ra, vào chiều ngày 04/12/2021, H ghi trực tiếp cho một số người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tổng cộng 1.160 điểm “Lô” giá 22.500 đồng/điểm, 16.720.000 đồng tiền “Đề”, 2.500.000 đồng tiền “Kép”, 750.000 đồng tiền “Ba càng”, 4.500.000 đồng tiền “Xiên 2, 1.900.000 đồng tiền “Xiên 3” và 100.000 đồng tiền “Xiên 4”, tương ứng với số tiền 52.570.000 đồng. Tổng số mà H nhận ghi lô, đề của L và những người lạ là 66.748.000 đồng. Trong số các số lô, số đề đã nhận ghi, H lọc ra rồi nhắn tin chuyển đánh với Trần Văn H 1.280 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm, 17.880.000 đồng tiền “Đề”, 2.500.000 đồng tiền “Kép”, 850.000 đồng tiền “Ba càng”, 4.500.000 đồng tiền “Xiên 2”, 1.900.000 đồng tiền “Xiên 3” và 100.000 đồng tiền “Xiên 4”, tương ứng với số tiền 55.634.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021: Trong các số lô, đề L chuyển cho H có trúng 50.000 đồng tiền “Đề” và 110 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 12.300.000 đồng; Trong các số lô, đề mà những người lạ đánh với H có trúng 450.000 đồng tiền “Đề” và 460 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 68.300.000 đồng. Như vậy, tang số đánh bạc của Dương Thị H là 147.348.000 đồng (Một trăm bốn bảy triệu, ba trăm bốn tám nghìn đồng).
Quá trình nhận ghi lô, đề nói trên, H chưa thanh toán tiền đánh, tiền thắng thua với L còn khi trực tiếp nhận ghi lô, đề cho những người lạ, H đã nhận từ những người này số tiền đánh lô, đề là 52.570.000 đồng. Tối ngày 04/12/2021, sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, có một người trong số những người lạ đánh lô, đề trúng 380 điểm “Lô” và 200.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền 44.400.000 đồng. Người này đã đến gặp H để nhận tiền trúng nên số tiền còn lại mà H giữ là 8.170.000 đồng. Quá trình điều tra, Dương Thị H đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị H: Trong ngày 04/12/2021, H nhận ghi, lô đề cho một số người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tổng cộng 357 điểm “Lô” với giá 22.500 đồng/điểm, 525.000 đồng tiền “Đề”, 2.000.000 đồng tiền “Xiên 2” và 20.000 đồng tiền “Xiên 3” tương ứng với số tiền là 10.577.500 đồng. Từ 12h30 đến 18h15, H sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Mỹ Duyên” (đăng ký bằng tài khoản gmail mang tên “[email protected]”) nhắn tin đến tài khoản Facebook mang tên “Lộc Phát” (được đăng ký bằng số điện thoại 0862175304) của Trần Văn H để chuyển cho H 357 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm, 525.000 đồng tiền “Đề”, 2.000.000 đồng tiền “Xiên 2” và 20.000 đồng tiền “Xiên 3” tương ứng với số tiền 10.327.600 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021, trong số các số lô, số đề mà H nhận ghi rồi chuyển cho Hcó trúng 95 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 7.600.000 đồng. Như vậy, tang số đánh bạc của Nguyễn Thị H là 18.177.500 đồng (Mười tám triệu, một trăm bảy bảy nghìn, năm trăm đồng).
Quá trình nhận ghi lô, đề nói trên, H đã nhận từ những người đánh lô, đề số tiền 10.577.500 đồng. Tối ngày 04/12/2021, sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, có một số người trong số những người lạ đánh lô, đề trúng 95 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 7.600.000 đồng. Những người này đã đến gặp H để nhận tiền trúng, nên số tiền còn lại mà H giữ là 2.977.500 đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân.
- Đối với bị cáo Phan Thị M: Trong ngày 04/12/2021, M nhận ghi, lô đề cho một số người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tổng cộng 275 điểm “Lô” với giá 22.500 đồng/điểm, 5.000.000 đồng tiền “Đề”, 300.000 đồng tiền “Tổng 4”, 8.500.000 đồng tiền “Đầu 6”, 1.200.000 đồng tiền “Đầu 4”, 300.000 đồng “Đầu 5” và 600.000 tiền “Đầu 7” và 100.000 đồng tiền “Ba càng”, tương ứng với số tiền 22.187.500 đồng. Từ 18h10 đến 18h18, M sử dụng thuê bao điện thoại số 0705955519 nhắn tin đến thuê bao điện thoại số 0862175304 của Trần Văn H để chuyển cho H 275 điểm “Lô” với giá 21.700 đồng/điểm, 5.000.000 đồng tiền “Đề”, 300.000 đồng tiền “Tổng 4”, 8.500.000 đồng tiền “Đầu 6”, 1.200.000 đồng tiền “Đầu 4”, 300.000 đồng “Đầu 5” và 600.000 tiền “Đầu 7” và 100.000 đồng tiền “Ba càng”, tương ứng với số tiền 21.967.500 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021, trong số các số lô, số đề mà M chuyển cho H có trúng 120.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền 8.400.000 đồng. Như vậy, tang số đánh bạc của Phan Thị M là 30.587.500 đồng (Ba mươi triệu, năm trăm tám bảy nghìn, năm trăm đồng).
Quá trình nhận ghi lô, đề nói trên, M đã nhận từ những người đánh lô, đề số tiền 22.187.500 đồng. Tối ngày 04/12/2021, sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, có một người trong số những người lạ đánh lô, đề trúng 120.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền 8.400.000 đồng. Người này đã đến gặp M để nhận tiền trúng, nên số tiền còn lại mà M giữ là 13.787.500 đồng. Quá trình điều tra, Phan Thị M đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân.
- Đối với bị cáo Trần Văn H:
+ Từ 17h15 đến 18h, Dương Thị H sử dụng thuê bao điện thoại số 0343746610 nhắn tin đến thuê bao điện thoại số 0973857233 chuyển cho Trần Văn H 1.280 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm, 17.880.000 đồng tiền “Đề”, 2.500.000 đồng tiền “Kép”, 850.000 đồng tiền “Ba càng”, 4.500.000 đồng tiền “Xiên 2”, 1.900.000 đồng tiền “Xiên 3” và 100.000 đồng tiền “Xiên 4”, tương ứng với số tiền 55.634.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021, trong số các số lô, số đề mà H chuyển cho H có trúng 500.000 đồng tiền “Đề” và 480 điểm “Lô” tương ứng với số tiền 73.400.000 đồng.
+ Từ 12h30 đến 18h15, Nguyễn Thị H sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Mỹ Duyên” (đăng ký bằng tài khoản gmail mang tên “[email protected]”) nhắn tin đến tài khoản Facebook mang tên “Lộc Phát” (được đăng ký bằng số điện thoại 0862175304) của Trần Văn H để chuyển cho H 357 điểm “Lô” với giá 21.800 đồng/điểm, 525.000 đồng tiền “Đề”, 2.000.000 đồng tiền “Xiên 2” và 20.000 đồng tiền “Xiên 3” tương ứng với số tiền 10.327.600 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021, trong số các số lô, số đề mà H chuyển cho H có trúng 95 điểm “Lô”, tương ứng với số tiền 7.600.000 đồng.
+ Từ 18h10 đến 18h18, Phan Thị M sử dụng thuê bao điện thoại số 0705955519 nhắn tin đến thuê bao điện thoại số 0862175304 của Trần Văn H để chuyển cho H 275 điểm “Lô” với giá 21.700 đồng/điểm, 5.000.000 đồng tiền “Đề”, 300.000 đồng tiền “Tổng 4”, 8.500.000 đồng tiền “Đầu 6”, 1.200.000 đồng tiền “Đầu 4”, 300.000 đồng “Đầu 5”, 600.000 tiền “Đầu 7” và 100.000 đồng tiền “Ba càng”, tương ứng với số tiền 21.967.500 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 04/12/2021, trong số các số lô, số đề mà M chuyển cho H có trúng 120.000 đồng tiền “Đề”, tương ứng với số tiền 8.400.000 đồng.
Ngày 04/12/2021, tổng số tiền lô, đề H nhận ghi cho H, H và M là 87.929.100 đồng. Tổng số tiền trúng trong các số lô, đề H nhận ghi là 89.400.000 đồng. Vậy, tang số đánh bạc của Trần Văn H trong ngày 04/12/2021 là 177.329.100 đồng (Một trăm bảy bảy triệu, ba trăm hai chín nghìn, một trăm đồng). H bị thua 1.470.900 đồng từ việc nhận ghi lô, đề. Tuy nhiên, H chưa thanh toán tiền thắng, thua với các bị can khác.
- Ngoài ra, quá trình điều tra, Đ khai nhận vào chiều ngày 04/12/2021, Đào nhận ghi lô, đề cho một số người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ rồi dùng tài khoản Zalo “Lethidao” nhắn tin chuyển cho Trần Văn H toàn bộ số lô, đề, ghi được. Tuy nhiên, tối cùng ngày, Đ đã thu hồi toàn bộ các tin nhắn chuyển lô, đề cho H nên không có căn cứ để xác định tang số đánh bạc của Đ và H. Số tiền nhận ghi lô, đề Đ đã thanh toán tiền trúng cho những người đánh trúng, còn dư lại 243.000 đồng, Đ đã tự nguyện giao nộp cho cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- Thu giữ từ bị cáo Trần Văn H: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, có số IMEI 1 là 860969057235637/01 và số IMEI 2 là 860969059215637/01, sử dụng 02 sim thuê bao điện thoại số 0862175304 và 0973857233, máy đã qua sử dụng, chất lượng bên trong không mở kiểm tra.
- Thu giữ từ bị cáo Trần Văn L: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, có ốp lưng màu xanh, số máy MWFW2LL/A, số seri FCJZQOJN70L, sử dụng sim thuê bao điện thoại số 0979806576, máy đã qua sử dụng, chất lượng bên trong không mở kiểm tra.
- Thu giữ từ bị cáo Lê Thị Đ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số máy MT6H2LLA, số seri G6TY1155KPHF, chứa sim số 0966153036, máy đã qua sử dụng, chất lượng không mở kiểm tra.
- Thu giữ từ bị cáo Nguyễn Thị H: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, màn hình cảm ứng, số máy MT5M2LL/A, số seri F2LXX4EUKPHE, sử dụng sim thuê bao điện thoại số 0968343377, máy đã qua sử dụng, chất lượng không mở kiểm tra.
- Số tiền 41.078.500 đồng (Bốn mươi mốt triệu không trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm đồng) do các bị cáo và người liên quan trong vụ án tự nguyện giao nộp gồm: Trần Văn H số tiền 8.060.000 đồng; Trần Văn L số tiền 5.352.500 đồng; Dương Thị H số tiền 8.170.000 đồng; Nguyễn Thị H số tiền 2.977.500 đồng; Phan Thị M số tiền 13.787.500 đồng; Lê Thị Đ số tiền 971.000 đồng; Phạm Thanh T số tiền: 1.760.000 đồng.
Các vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện Nghi Xuân.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 09/CT-VKS-NX ngày 24/3/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân đã truy tố các bị cáo Trần Văn H và Dương Thị H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 321Bộ luật hình sự; đối với các bị cáo Trần Văn L, Lê Thị Đ, Nguyễn Thị H và Phan Thị M về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu Đề xuất xử lý vật chứng và án phí.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Trần Văn H cho rằng: Bị cáo H là trường hợp khuyết tật nặng liệt cả 2 chân, không đi lại được, mọi sinh hoạt đều có người hỗ trợ, gia cảnh nghèo, bố bệnh nặng, em gái cũng bị khuyết tật, con còn nhỏ, vợ bỏ đi nên đề nghị HĐXX: áp dụng điểm s, p, r khoản1, khoản 2 điều 51; Điều 65; Điều 54; Điều 321, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/05/2018 “hướng dẫn áp dụng điều 65 của BLHS về án treo”; khoản 1, khoản 2, Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP cho bị cáo H hình phạt tù được hưởng án treo để thể hiện chính sách nhân đạo của Pháp luật đối với người tàn tật. Đề nghị áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Dương Thị H, Trần Văn L, Nguyễn Thị H, Phan Thị M, Lê Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị:
Áp dụng khoản 2 Điều 321, điểm s, p, r khoản 1 điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52, điều 65 của BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm;
Áp dụng khoản 2,3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Dương Thị H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm; Phạt bổ sung bị cáo từ 15 – 20 triệu đồng sung công quỹ nhà nước
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 65 của BLHS đề nghị xử phạt các bị cáo Lê Thị Đ, Phan Thị M, Nguyễn Thị H và Trần Văn L mức án từ 9 – 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 – 24 tháng. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10 – 15 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.
Ngoài ra còn đề xuất về án phí, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng.
Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và 02 người làm chứng trong vụ án, xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên không cần phải hoãn phiên tòa.
. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Do có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước nên trong các ngày 03 và 04 tháng 12 năm 2021, Lê Thị Đ, Dương Thị H, Nguyễn Thị H, Phan Thị M đã chủ động liên hệ với Trần Văn H để đánh lô, đề với H. Trần Văn L liên hệ với Dương Thị H để đánh lô, đề với H. Các bị can đánh bạc với nhau dưới hình thức ghi lô, đề (căn cứ vào kết quả xổ số miền Bắc được mở thưởng từ 18h15 đến 18h30 hàng ngày để tính thắng, thua) nhằm mục đích thu lợi bất chính phục vụ việc chi tiêu cá nhân.
Cụ thể: Ngày 03/12/2021, Trần Văn H nhận ghi lô, đề từ Lê Thị Đ với tang số đánh bạc là 43.572.000 đồng, thu lợi bất chính 3.572.000 đồng.
Ngày 04/12/2021, Trần Văn H nhận ghi lô, đề từ Dương Thị H, Phan Thị M và Nguyễn Thị H với tang số đánh bạc là 177.329.100 đồng và không được hưởng lợi.
Số tiền đánh bạc của Dương Thị H với Trần Văn H là 147.348.000 đồng. Số tiền H thu lợi bất chính theo quy ước là 812.000 đồng.
Số tiền đánh bạc của Lê Thị Đ với Trần Văn H là 44.300.000 đồng. Số tiền Đào thu lợi bất chính là 728.000 đồng.
Số tiền đánh bạc của Phan Thị M với Trần Văn H là 30.587.500 đồng. Số tiền Mai thu lợi bất chính theo quy ước là 220.000 đồng.
Số tiền đánh bạc của Trần Văn L với Dương Thị H là 28.612.500 đồng. Số tiền Long thu lợi bất chính theo quy ước là 322.000 đồng.
Số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị H với Trần Văn H là 18.177.500 đồng. Số tiền Hạnh thu lợi bất chính theo quy ước là 249.900 đồng
Cáo trạng truy tố các bị cáo bị cáo Trần Văn H và Dương Thị H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 321Bộ luật hình sự; đối với các bị cáo Trần Văn L, Lê Thị Đ, Nguyễn Thị H và Phan Thị M về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
.Về đánh giá vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn không có người cầm đầu, khởi xướng, trong đó:
Bị cáo Trần Văn H là người đánh bạc với nhiều người, đánh bạc hai lần trở lên, tổng số tiền đánh bạc lớn nhất (220.901.100 đồng) nên giữ vai trò đứng đầu vụ.
Bị cáo Dương Thị H là người đánh bạc với nhiều người, tổng số tiền đánh bạc là 147.348.00 đồng nên tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo xếp sau bị cáo H và trên các bị cáo khác trong vụ án là phù hợp.
Các bị cáo Đ, M, L, H tham gia đánh bạc trong vụ án giữ vai trò là người thực hành với các bị cáo H và H. Số tiền đánh bạc của Lê Thị Đ với Trần Văn H là 44.300.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Phan Thị M với Trần Văn H là 30.587.500 đồng. Số tiền đánh bạc của Trần Văn L với Dương Thị H là 28.612.500 đồng. Số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị H với Trần Văn H là 18.177.500 đồng nên các bị cáo chịu hình phạt tương ứng với tính chất mức độ hành vi thực hiện.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn H nhận tiền ghi lô đề trong hai ngày 03, 04/12/2021 là tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Dương Thị H, Lê Thị Đ, Nguyễn Thị H, Phan Thị M, Trần Văn L không có tình tiết tăng nặng,
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Văn H tự thú, là người tàn tật nặng liệt hai chân, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương đề nghị xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Đ, H, M, L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo Trần Văn H là người giữ vai trò chính, số tiền đánh bạc lớn nhất trong vụ án, phạm tội hai lần trở lên. Tuy nhiên, bị cáo là người tàn tật nặng, liệt hai chân, mọi sinh hoạt cần người hỗ trợ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo là phù hợp, do đó HĐXX cần áp dụng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP “hướng dẫn áp dụng điều 65 của BLHS về án treo”; để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người tàn tật.
Bị cáo Dương Thị H là có vai trò thứ yếu so với bị cáo H, việc giao dịch nhận tiền ghi lô đề và đánh bạc 01 lần. Bị cáo là phụ nữ đang nuôi con, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có bố đẻ lập nhiều thành tích được UBND tỉnh, huyện tặng nhiều Bằng khen. Bản thân trong thời điểm dịch covid 19 đã giúp đỡ chính quyền địa phương trong công tác phục vụ các chốt phòng chống covid được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị cho bị cáo cải tạo tại địa phương, vây nên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo và bằng với mức án của bị cáo H, tuy nhiên bị cáo H cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền trên mức khởi điểm của khung phù hợp với chính sách pháp luật hình sự khi xét xử loại tội phạm này.
Các bị cáo Lê Thị Đ, Phan Thị M, Trần Văn L, Nguyễn Thị H thực hiện hành vi phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đều đã tự nguyện giao nộp lại số tiền hưởng lợi từ việc đánh bạc, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều đang nuôi con nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà áp dụng điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo đủ nghiêm.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo mức tiền phù hợp hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo. Riêng bị cáo Trần Văn H là người tàn tật, đang nuôi con nhỏ một mình nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: 04 chiếc điện thoại thu giữ từ các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn L, Lê Thị Đ, Nguyễn Thị H là công cụ phương tiện phạm tội, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
. Về biện pháp tư pháp: Số tiền 41.078.500 đồng là tiền các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dùng đánh bạc là công cụ, phương tiện phạm tội, tiền thu lợi bất chính, theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
. Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Trong vụ án này, có Phạm Thanh T là người trực tiếp nhắn tin đánh lô, đề với Trần Văn L vào ngày 04/12/2021. Quá trình điều tra xác định tang số đánh bạc của Phạm Thanh T là 4.460.000 đồng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân không xem xét trách nhiệm hình sự mà đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mức phạt 200.000 đồng đối với Toàn. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân không xem xét xử lý TNHS đối với Phạm Thanh T vai trò đồng phạm cùng các bị cáo trong vụ án này là có căn cứ, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, riêng bị cáo Trần Văn H được miễn án phí; các bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, p, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn H;
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Thị H;
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phan Thị M, Lê Thị Đ, Trần Văn L và Nguyễn Thị H;
Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293, Điều 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 (Trần Văn H được hưởng thêm điểm đ khoản 1 Điều 12) Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1]. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Dương Thị H, Lê Thị Đ, Phan Thị M, Trần Văn L, Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
[2]. Hình phạt chính:
- Xử phạt Trần Văn H và Dương Thị H mỗi bị cáo 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 5 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt Lê Thị Đ, Trần Văn L, Phan Thị M, Nguyễn Thị H mỗi bị cáo 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Trần Văn H, Dương Thị H, Phan Thị M, Nguyễn Thị H cho UBND xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Trần Văn L cho UBND xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Lê Thị Đ cho UBND xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng đối với bị cáo Dương Thị H, Phạt tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng đối với các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Thị H, Phan Thị M, Lê Thị Đ để nộp ngân sách Nhà nước.
[4]. Về vật chứng:
Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 04 chiếc điện thoại.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 41.078.500 (Bốn mươi mốt triệu, không trăm bảy mươi tám nghìn, năm trăm) đồng do các bị cáo và người liên quan trong vụ án đã tự nguyện giao nộp. Cụ thể:
Trần Văn H số tiền 8.060.000 (Tám triệu, không trăm sáu mươi nghìn) đồng; Trần Văn L số tiền 5.352.500 (Năm triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm) đồng; Dương Thị H số tiền 8.170.000 (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn) đồng; Nguyễn Thị H số tiền 2.977.500 (Hai triệu, chín trăm bảy mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng; Phan Thị M số tiền 13.787.500 (Mười ba triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng; Lê Thị Đ số tiền 971.000 (Chín trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng; Phạm Thanh T số tiền: 1.760.000 (Một triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/3/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân.
[5]. Về án phí: Buộc các bị cáo Dương Thị H, Trần Văn L, Nguyễn Thị H, Phan Thị M, Lê Thị Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn H.
[6]. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Nghi Xuân; - CQCSĐT Công an huyện Nghi Xuân; - CQTHAHS Công an huyện Nghi Xuân; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân; - Các bị cáo; Người có QL&NVLQ; - Người đại diện theo PL; Người bào chưa; - UBND xã Cổ Đạm, xã Xuân Liên; xã Xuân Thành; - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) Đặng Thị Hương |