- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chang A Dơi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chang A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày 26-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Phú
Ông Sùng Thải Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mào Thị Chiến
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa:
Ông: Lò Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Chang A D (Tên gọi khác: Không) - sinh năm 1982 tại tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú, chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Nậm ngh, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Mảng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chang A L – đã chết và con bà Lò Me Ỏ – sinh năm 1938; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Vợ: Lò Me Đ - sinh năm 1980; Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại bản Nậm Ngh, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu. Đến ngày 23/11/2021 bị cáo bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hạng A S - sinh năm 1996 – Vắng mặt Địa chỉ: Bản Pa M, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 16/6/2021 Chang A D mang theo 01 gói heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng, rồi đi bộ về nhà Hạng A S (con rể của Dơi) Địa chỉ: Bản Pa M, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu để mượn xe của Súa. Hồi 10 giờ 20 phút khi Dơi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave α, không có biển kiểm soát đến đầu bản Pa Mu, xã Hua Bum gần quốc lộ 4H thì bị Công an xã Hua B phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói heroine của D khai xin được của một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Pa M, mục đích D để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định ma túy cụ thể như sau:
Kết luận giám định tư pháp về khối lượng ngày 16/6/2021 của Công an huyện Nậm Nhùn kết luận chất bột khô, màu trắng có khối lượng 0,11 gam; Kết luận giám định tư pháp số: 510/GĐ – KTHS ngày 21/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận số chất bột màu trắng thu giữ của Chang A D là ma túy, loại heroine.
Về các vấn đề khác của vụ án:
- Kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông theo Dơi khai là cho D 0,11 gam heroine vào ngày 16/6/2021.
- Đối với Hạng A S không biết Dơi sử dụng xe máy của mình vào mục đích phạm tội nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Anh Hạng A S có đề nghị xin lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave α, không có biển kiểm soát anh mua lại của anh Lèng Văn Thuận.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave α, dung tích 109 cm3, số máy: JA39E – 0858729, số khung: RLHJA 3914 KY002692, không có biển kiểm soát.
- 0,11 gam heroine đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật.
- 01 vỏ bì và mảnh nilon sau khi mở niêm phong
Cáo trạng số 03/CT – VKS ngày 20 tháng 12 năm 2021 của VKSND huyện Nậm Nhùn truy tố bị can Chang A D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Chang A D thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, kết quả giám định, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chang A D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Được khấu trừ đi 09 ngày tạm giữ từ ngày (16/6/2021 đến 24/6/2021). Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2021.
Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bì và mảnh nilon sau khi mở niêm phong. Trả lại cho anh Hạng A S - sinh năm 1996 Địa chỉ: Bản Pa M, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave α, không có biển kiểm soát. Về trách nhiệm dân sự: Không. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, không có ý kiến tranh luận và đối đáp gì. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nậm Nhùn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác… được xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 16/6/2021 tại bản Pa M, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu Chang A D đang tàng trữ trái phép 0,11 gam heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Hua B, huyện Nậm Nh phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số heroine.
Bị cáo Chang A D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Ma túy là loại dược tố độc hại, làm kiệt quệ kinh tế gia đình, gây sự suy thoái đạo đức, lối sống trong xã hội và làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bên cạnh đó bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo xét thấy cần quyết định hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện để răn đe, giáo dục, phòng ngừa riêng cũng như phòng ngừa chung, bên cạnh đó cũng thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bì và mảnh nilon sau khi mở niêm phong. Đối với Hạng A Súa không biết D sử dụng xe máy của mình vào mục đích phạm tội nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Trả lại cho Anh Hạng A S - sinh năm 1996 Địa chỉ: Bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave α, không có biển kiểm soát.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo cũng không có thu nhập ổn định nên áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các vấn đề liên quan: Kết quả điều tra và tại phiên tòa không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông theo D khai là cho D 0,11 gam heroine vào ngày 16/6/2021.
Về án phí hình sự: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo
1. Tuyên bố bị cáo Chang A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chang A D: 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Được khấu trừ đi 09 ngày tạm giữ từ ngày (16/6/2021 đến 24/6/2021) bị cáo còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2021. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bì và mảnh nilon sau khi mở niêm phong. Trả lại cho Anh Hạng A S - sinh năm 1996 Địa chỉ: Bản Pa M, xã Hua B, huyện Nậm Nh, tỉnh Lai Châu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave α, dung tích 109 cm3, số máy: JA39E – 0858729, số khung: RLHJA 3914 KY002692, không có biển kiểm soát. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 22/12/2021 giữa Công an huyện Nậm Nhùn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn)
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lai Châu; - TAND tỉnh Lai Châu; - Công an huyện Nậm Nhùn; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - Chi cục THADS huyện Nậm Nhùn; - Bị cáo; Người CQLNVLQ; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - Lưu HSVA. HSTHA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Minh Tuấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |