vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện la Pa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 06/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Bị cáo Trần Thị T 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án, ngày 06/5/2022. Giao bị cáo Trần Thị T cho Uỷ ban nhân dân xã Ia M, huyện I, tỉnh G và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn I
TØnh G
B¶n ¸n sè: 17/2022/HS - ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngµy: 06/5/2022

Nh©n danh

N¦íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn I tØnh G

- Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Lê Viết Thịnh.

C¸c Héi thÈm nh©n d©n:

Bà : Mã Thị Duyên.

Ông : Phan Nam Định.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Quản Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện I, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I tham gia phiên Tòa: Ông Hà Văn Chinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh G mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/ QĐXXST – HS ngày 22 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Thị T, sinh năm 1975 tại tỉnh H.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã I, huyện I, tỉnh G; nơi sinh sống: Thôn K, xã I, huyện I, tỉnh G; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa ( học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Trần Văn L (đã chết) và bà Lê Thị T; có chồng là Nguyễn Văn Q, sinh năm 1971. Bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/11/2021 đến ngày 19/11/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Vương Thị X, sinh năm: 1959. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1971. Có mặt.

Đều trú tại: Thôn K, xã I, huyện I, tỉnh G.

3. Ông Rcom Đ, sinh năm: 1979. Có mặt.

4. Ông Ksor Ch, sinh năm: 1983. Có mặt.

5. Ông Rmah Nh, sinh năm: 1990. Có mặt.

6. Bà Phạm Thị Th, sinh năm: 1975 Vắng mặt.

Đều trú tại: Thôn Đăk Ch, xã I, huyện I, tỉnh G.

7. Ông Siu T, sinh năm: 1965

Trú tại: Thôn H’B, xã Ia K, huyện I, tỉnh G. Vắng mặt.

8. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982

Trú tại: Thôn 2, xã K, huyện I, tỉnh G. Vắng mặt.

* Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà Ksor H’Bloan, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn Đăk Ch, xã I, huyện I, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 12/11/2021, sau khi có kết quả sổ xố kiến thiết tỉnh G, Trần Thị T tổng hợp nội dung ghi bán số lô, đề cho khách tại nhà mình ở thôn K, xã I, huyện I thì bị lực lượng Công an huyện I phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ khi bắt quả tang gồm: Số tiền 6.621.000 đồng thu giữ trong túi xách màu đen do T đeo trên người (T khai số tiền 1.500.000 đồng là tiền bán hàng tạp hóa trong ngày 12/11/2021, còn lại số tiền 5.121.000 đồng là tiền bán số lô, đề trong ngày có được); 01 (một) cái kéo màu xanh dài 15 cm; 01 (một) cái bút bi mực xanh; 01 (một) cuốn vở học sinh loại ô ly, một số tờ bên trong bị cắt, tổng cộng 42 tờ; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12, màu xanh dương, bên trong gắn 01 sim số 0862248397; tờ phơi số 01 bị xé thành 02 (hai) mẩu giấy, có kích thước lần lượt là (24,5 x 13)cm và (14,7 x 12)cm; tờ phơi số 02 bị xé thành 05 (năm) mẩu giấy, có kích thước lần lượt là (20 x 12)cm, (10 x 6)cm, (9,5 x 5,8)cm, (12,5 x 5,5)cm và (05 x 05)cm; 11 (mười một) mẩu giấy kích thước mẩu lớn nhất (7,3 x 3,4)cm, nhỏ nhất (04 x 02)cm. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị T, thu giữ số tiền 1.675.000 đồng (số tiền này do T bán lô, đề cho khách trong ngày 12/11/2021 có được) để trong két sắt của nhà T.

Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/11/2021, Trần Thị T bán số lô, số đề cho khách dựa vào kết quả sổ xố kiến thiết tỉnh G mở thưởng cùng ngày tại nhà T. Trần Thị T bán số lô, đề cho Vương Thị X, X mua 01 số đầu, đuôi với số tiền là 4.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì X bị thua cược, Rcom Đ, Đ mua 01 số đầu, đuôi với số tiền 11.000 đồng, T cho Đ hưởng 1.000 đồng tiền hoa hồng và mua 02 số lô tương ứng với số tiền 26.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Đ bị thua cược, Ksor Ch, Ch mua 03 số đầu, đuôi với số tiền 33.000 đồng, T cho Ch hưởng 3.000 đồng tiền hoa hồng và mua 01 lô xiên đá tương ứng với số tiền là 26.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Ch bị thua cược, Rmah Nh, Nh mua 02 số đầu, đuôi với số tiền 4.000 đồng và mua 02 lô tương ứng với số tiền 26.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Nh trúng 01 lô, tương ứng với số tiền 70.000 đồng, Siu T, T mua 10 số đầu, đuôi với số tiền 63.000 đồng, T cho T hưởng 6.000 đồng tiền hoa hồng và mua 03 lô tương ứng với số tiền 78.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì T bị thua cược, Phạm Thị Th, Th sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO A5, 2020 màu trắng, bên trong có gắn 01 sim thuê bao 0374863568, sử dụng tài khoản Zalo tên “Pham Th” nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Thảo T” là của Trần Thị T sử dụng, mua 04 lô tương ứng với số tiền 91.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Th trúng 01 lô, tương ứng với số tiền 70.000 đồng và một số người khác, T không biết nhân thân lai lịch. Trong ngày 12/11/2021Trần Thị T bán được tổng cộng là 168 số lô, 199 số đầu, đuôi, 06 lô xiên và 01 số ba càng, tổng số tiền bán lô, đề là 10.688.000 đồng. Trong đó, số tiền thực tế mà T nhận được của người mua số lô, số đề là 10.520.000 đồng, còn lại số tiền người mua đề được hưởng hoa hồng 168.000 đồng. Căn cứ kết quả sổ xố kiến thiết của tỉnh G mở thưởng ngày 12/11/2021 thì người chơi trúng 03 số đầu, đuôi với số tiền 420.000 đồng, trúng 29 lô tương ứng với số tiền 4.270.000 đồng, tổng cộng số tiền người chơi trúng 4.690.000 đồng. Hành vi ghi bán số lô, đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh G của Trần Thị T vào ngày 12/11/2021 bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng nên Trần Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.688.000 đồng + 4.690.000 đồng = 15.378.000 đồng.

Ngoài ra Trần Thị T còn khai nhận vào ngày 11/11/2021, T bán số đề 50 đầu với số tiền 110.000 đồng và số lô 44, 05 điểm, số tiền là 65.000 đồng cho một người lạ mặt T không xác định lai lịch của người mua. Sau đó, T nhắn tin chuyển các con số lô, đề đó qua số điện thoại di động 0967786355 của Nguyễn Thị H để H làm cái. Căn cứ vào kết quả sổ xố kiến thiết tỉnh Bình Định mở thưởng ngày 11/11/2021, các con số trên không trúng cược.

Về hình thức đánh bạc như sau:

Trần Thị T lợi dụng kết quả xổ số của Công ty xổ số kiến thiết Miền Trung và Tây Nguyên mở thưởng hàng ngày, đã đứng ra trực tiếp bán đề cho khách. Khi có người đến mua đề T ghi vào tờ phơi của mình và ghi một tờ phơi T chuẩn bị sẵn cho người ghi giữ để theo dõi thanh toán tiền cho người trúng đề. Sau khi có kết quả xổ số vào 17 giờ 30 phút, T tổng hợp tiền thắng, nếu ai trúng đề thì mang lai đề đến gặp T để nhận tiền như đã thỏa thuận.

Đánh đầu đuôi: Sử dụng hai số của giải tám và hai số cuối giải đặc biệt để làm kết quả ăn thua, người chơi chọn một số từ 00 đến 99 để chơi, nếu số đã chọn trùng với hai số của giải tám hoặc hai số cuối của giải đặc biệt thì người mua số 1.000 đồng thắng gấp 70 lần, thua thì mất tiền mua đề là 1.000 đồng, số tiền này người bán đề hưởng.

Đánh lô: Sử dụng hai số cuối của các giải để làm kết quả ăn, thua, người chơi chọn một số từ số 00 đến 99 để chơi, nếu số đã chọn trùng với hai số cuối của các giải thì trúng, theo thỏa thuận cứ người mua 01 điểm lô được tính là 13.000 đồng, nếu trúng được 01 điểm thì được 70.000 đồng, không trúng thì mất tiền mua đề, số tiền này người bán đề được hưởng.

Đánh xiên (đá): người chơi chọn hai số từ số 00 đến số 99 để chơi, nếu hai số cuối cùng trong các giải trùng với hai số mà người chơi đã chọn thì thắng cược. Mua 01 điểm xiên (đá) được tính là 26.000 đồng, nếu trúng 01 điểm thì thắng được 500.000 đồng, không trúng thì số tiền này người bán được hưởng.

Đánh ba càng: Sử dụng ba chữ số cuối cùng của các giải để chơi, người chơi chọn một số từ 000 đến 999 để chơi, nếu mua 01 điểm ba càng được tính 13.000 đồng, nếu trúng 01 điểm thì thắng được 500.000 đồng, còn không trúng thì số tiền này người bán đề được hưởng.

Về tỉ lệ hoa hồng: Đánh đầu đuôi: Người chơi được hưởng 10% số tiền đánh tức là khi người chơi đánh 10.000 đồng thì số tiền họ phải bỏ ra cho chủ đề là 9.000 đồng; đánh lô, xiên, ba càng : người chơi không được hưởng tỉ lệ hoa hồng.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT – VKS ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh G truy tố Trần Thị T về tội: “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện IaPa đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt:

Bị cáo Trần Thị T mức án từ 08 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng, tính từ ngay tuyên án.

Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bổ sung để sung quỹ nhà nước đối với bị cáo Trần Thị T số tiền từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.796.000 đồng (Mười triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12, màu xanh dương, bên trong gắn 01 sim số 0862248397.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kéo màu xanh dài 15 cm; 01 (một) cái bút bi mực xanh; 01 (một) cuốn vở học sinh loại ô ly, một số tờ bên trong bị cắt, tổng cộng 42 tờ.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 12 tháng 11 năm 2021, Trần Thị T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề được tổng cộng là 168 số lô, 199 số đầu, đuôi, 06 lô xiên và 01 số ba càng, tổng số tiền bán lô, đề là 10.688.000 đồng. Trong đó, số tiền thực tế mà T nhận được của người mua số lô, số đề là 10.520.000 đồng, còn lại số tiền người mua đề được hưởng hoa hồng 168.000 đồng. Căn cứ kết quả sổ xố kiến thiết của tỉnh G mở thưởng ngày 12/11/2021 thì người chơi trúng 03 số đầu, đuôi với số tiền 420.000 đồng, trúng 29 lô tương ứng với số tiền 4.270.000 đồng, tổng cộng số tiền người chơi trúng 4.690.000 đồng. Hành vi ghi bán số lô, đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh G của Trần Thị T vào ngày 12/11/2021 bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng nên Trần Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.688.000 đồng + 4.690.000 đồng = 15.378.000 đồng.Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị T phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề của bị cáo Trần Thị T đã xâm phạm đến trật tự công cộng và sự quản lý của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rằng việc đánh bạc ăn thua bằng tiền, hiện vật là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân bị cáo đã vi phạm. Hành vi đánh bạc của bị cáo là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dễ gây ra các hậu quả nghiêm trọng khác, gây tác hại cho xã hội về nhiều mặt. Vì vậy, bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi của bị cáo gây ra.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo Trần Thị T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã thể hiện sự ăn năn, hối cải của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo thường xuyên đau bệnh, con còn nhỏ và để cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự là phù hơp.

Ngoài ra, trong vụ án này đối với Vương Thị X, Rcom Đ, Ksor Ch, Rmah Nh, Siu T và Phạm Thị Th là những người tham gia mua số lô, đề của T với tổng số tiền của từng người sử dụng để mua lô đề đều dưới 5.000.000đồng và đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện I đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đối với Nguyễn Thị H là người do Trần Thị T khai nhận trong ngày 11/11/2021, T bán số đề 50 đầu 110.000 đồng và số lô 44, 5 điểm, thành tiền là 65.000 đồng cho một người lạ mặt rồi T nhắn tin chuyển các con số lô, đề đó qua số điện thoại di động 0967786355 của Nguyễn Thị H, để H làm cái, quá trình điều tra H không thừa nhận hành vi đánh bạc với Trần Thị T và khai báo tại thời điểm T nhắn tin điện thoại, sim trên đã bị mất. Qua điều tra chưa có cơ sở xác định Nguyễn Thị H có đánh bạc với Trần Thị T hay không nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.

Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về ý kiến của bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện IaPa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện IaPa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Trần Thị T 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án, ngày 06/5/2022.

Giao bị cáo Trần Thị T cho Uỷ ban nhân dân xã Ia M, huyện I, tỉnh G và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị T số tiền là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.796.000 đồng (Mười triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12, màu xanh dương, bên trong gắn 01 sim số 0862248397.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kéo màu xanh dài 15 cm; 01 (một) cái bút bi mực xanh; 01 (một) cuốn vở học sinh loại ô ly, một số tờ giấy bên trong bị cắt, tổng cộng 42 tờ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/3/2022 giữa Công an huyện I và Chi cục thi hành án dân sự huyện I).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/5/2022). Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ