- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tang trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày: 31 – 05 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Trinh
Bà Trần Thị Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 05 năm 2022, tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 18/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 04 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 16/05/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ1 - Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 03 tháng 10 năm 1999 tại xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Tiến L; Mẹ: Hoàng Thị N; Anh chị em ruột: có 03 người (bị cáo là con thứ nhất); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 71/QĐ-UBND ngày 21/07/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Kỳ Hải, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2022.
Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ2 - Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 05 tháng 05 năm 1994 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn Th; Mẹ: Nguyễn Thị Ng; Anh chị em ruột: có 02 người (bị cáo là con thứ hai); Vợ: Lê Thị Ng; Con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 08/2017/HSST ngày 06/06/2017 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, chấp hành xong Bản án từ ngày 26/09/2017, đến nay đã được đương nhiên được xóa án tích. Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2022.
Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Đức Ph
Sinh ngày: 03/07/1988; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Vắng mặt.
Người chứng kiến:
Ông Trần Xuân K
Sinh ngày: 29/07/1970; Nơi cư trú: B, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ công sở.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn Đ1 là bạn bè với nhau, cả hai cùng là đối tượng sử dụng ma túy. Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/01/2022, Nguyễn Văn Đ1 sử dụng điện thoại di động truy cập vào ứng dụng Messenger có tài khoản “VanDan” gọi cho Nguyễn Văn Đ2 có tài khoản “N.V.Đức” với nội dung “Anh lấy được đồ đâu không, lấy giúp em năm trăm”. Đ1 hiểu ý là Đ1 nhờ Đ2 mua ma túy. Đ2 đồng ý và nói với Đ1 “Lại nhà anh”. Sau khi trao đổi với Đ1 thì Đ2 sử dụng điện thoại liên hệ qua ứng dụng Messenger với một nam thanh niên mà Đ2 biết trước đó (người này tự xưng tên T, trú tại xã Đ, không rõ nhân thân, lai lịch) với nội dung “Có đồ ngoài không để gúp em năm trăm”. Người đàn ông tên T trả lời “Chạy ra ngoài cổng chào Kỳ Đồng rồi gọi cho mình”. Cùng lúc này, Nguyễn Văn Đ1 sau khi gọi điện thoại nhờ Đ2 mua ma túy thì đi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode biển kiểm soát 38K1-457.43 của anh Lê Đức Ph (trú cùng thôn) rồi điều khiển xe đi đến nhà của Đ2. Khi đến nơi, Đ2 nói với Đ1 điều khiển xe chở Đ2 đi ra khu vực xã Kỳ Đồng để mua ma túy. Khi đến khu vực cổng chào xã Kỳ Đồng, Đ2 liên hệ lại với nam thanh niên tên T trên thì được người này hướng dẫn “Bạn đi ra quán Bi a phía ngoài cổng chào một đoạn, ở nhà bên cạnh có túi rác màu đen, có gói THĂNG LONG bỏ đó, bạn cầm rồi bỏ tiền lại cho mình”. Sau khi được người này hướng dẫn Đ2 nói với Đ1 dừng xe, rồi bảo Đ1 xuống xe. Đ1 đưa cho Đ2 500.000 đồng. Nhận tiền xong Đ2 một mình điều khiển xe mô tô đi đến ki ốt bỏ trống gần quán bi-a Victory thì nhìn thấy một túi ni lông màu đen đựng đầy rác, không buộc miệng túi, phía trên túi ni lông có một gói thuốc lá THĂNG LONG. Đ2 tiến lại cầm gói thuốc lá lên lắc lắc thì biết bên trong đã có ma túy. Đ2 bỏ lại 500.000 đồng trên túi ni lông đựng rác rồi cầm gói thuốc lá THĂNG LONG bên trong đựng ma túy và điều khiển xe quay lại cổng chào Kỳ Đồng chở Đ1 đi về. Trên đường về Đ2 đưa gói thuốc lá có chứa ma túy cho Đ1, Đ1 kiểm tra thì thấy bên trong gói thuốc lá THĂNG LONG có 01 gói giấy màu vàng hình chữ nhật, biết bên trong là ma túy, Đ1 vứt vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG rồi bỏ gói ma túy vào túi bên phải áo khoác đang mặc. Khi về đến nhà Đ2 thì Đ2 xuống xe và đi vào nhà còn Đ1 điều khiển xe đi về nhà mình. Đến 21 giờ 15 phút cùng ngày, Đ1 đang điều khiển xe mô tô đi qua đoạn trước cổng trường Mầm non xã Kỳ Hải (thuộc thôn Thượng Hải, xã Kỳ Hải, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) thì bị Tổ công tác Công an xã Kỳ Thư và Công an xã Kỳ Hải phát hiện, bắt giữ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Đ1, đồng thời tạm giữ, niêm phong các tang vật có liên quan.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn Đ2 và Nguyễn Văn Đ1 đều thừa nhận hành vi mua và cất giấu ma túy của mình.
Tại bản kết luận giám định số 56/GĐMT-PC09 ngày 17/01/2022 của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: chất tinh thể màu trắng đựng trong gói giấy thiếc màu vàng (thu giữ của Nguyễn Văn Đ1) là ma túy, có khối lượng là 0,1344g (không phẩy một ba bốn bốn gam), là Methamphetamin. Methamphetamin là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, số thứ tự 323, Nghị định số 73/2018/CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã thu giữ:
- 01 gói giấy thiếc màu vàng bên trong chứa 0,1344g (không phẩy một ba bốn bốn gam) Methamphetamin;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu đen, số Imei1: 356938142676494, số Imei2: 356989842676491, gắn sim số 0346436064 (đã qua sử dụng);
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo CPH1805, số Imei1: 869347033272316, số Imei2: 869347033272308, gắn sim số 0886688019 (đã qua sử dụng);
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Sh Mode, màu đỏ nâu, biển kiểm soát 38K1-457.43 (đã qua sử dụng) thuộc quyền sở hữu của anh Lê Đức Ph.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSKA ngày 19 tháng 04 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xét xử Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn Đ2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố sau khi phân tích các chứng cứ tiếp tục giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt:
+ Nguyễn Văn Đ1 từ 13 đến 16 tháng tù;
+ Nguyễn Văn Đ2 từ 13 đến 16 tháng tù.
- Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì thư được niêm phong, bên trong chứa 0,1097g gam Methamphetamin (Số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định);
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu đen, số Imei1: 356938142676494, số Imei2: 356989842676491, gắn sim số 0346436064 (đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo CPH1805, số Imei1: 869347033272316, số Imei2: 869347033272308, gắn sim số 0886688019 (đã qua sử dụng);
- Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo buộc Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 hoàn toàn đồng tình với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng 02 bị cáo đều trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái và mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
. Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, thủ tục, căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại, tố cáo nào.
. Về tội danh: Hành vi của Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn Đ2 mua và cất giấu trong người 0,1344g (không phẩy một ba bốn bốn gam) Methamphetamin nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về hình phạt: Hành vi của Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn Đ2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, cần phải xử phạt nghiêm minh. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Đ1 giữ vai trò khởi xướng, Đ2 và Đ1 đều thực hành tích cực. Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn Đ2 phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Nguyễn Văn Đ1 có 01 tiền sự; Nguyễn Văn Đ2 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích. Do đó vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt Nguyễn Văn Đ1 từ 13 đến 16 tháng tù, Nguyễn Văn Đ2 từ 13 đến 16 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.
. Về vật chứng:
- Số ma túy thu giữ là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cho nên bị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- 02 chiếc điện thoại bị thu giữ là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, cho nên bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Chiếc xe máy đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.
. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ2 khai mua ma túy của 01 người tên T cư trú tại xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh , tỉnh Hà Tĩnh, nhưng quá trình điều tra không xác định được người nào tên T cư trú tại xã Kỳ Đồng vào thời điểm Đ2 mua ma túy. Do đó, không có cơ sở xử lý.
. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, 02 bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Lê Đức Ph vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/01/2022.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ2 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/01/2022.
Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì thư được niêm phong, bên trong chứa 0,1097g gam Methamphetamin (Số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu đen, số Imei1: 356938142676494, số Imei2: 356989842676491, gắn sim số 0346436064 (đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo CPH1805, số Imei1: 869347033272316, số Imei2: 869347033272308, gắn sim số 0886688019 (đã qua sử dụng).
Đặc điểm và tình trạng vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/04/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Lê Đức Ph được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Kỳ Anh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh; - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản); - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |