- Tranh chấp gì? án hình sự — "trân tân chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần T, phạm tội Chống người thi hành công vụ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH B C LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS-ST Ngày 16- 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH B C LIÊU
- Thành phần Hội đ ng t sơ thẩm g m c :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lại Thiện Phong
Ông Nguyễn Thành Đến
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H ng ân, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 12/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần T, sinh năm 1990 tại huyện H, tỉnh B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh B. Chỗ ở: Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh B; nghề nghiêp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là Trần Th, sinh năm 1956 và mẹ là Trần Thị V, sinh năm 1964; vợ tên Trần Phạm Anh T, sinh năm 1997 và có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2022 đến ngày 15/01/2022 khởi tố tại ngoại đến nay, (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Danh H, sinh năm 1996. Trú tại: Ấp B, xã L, huyện H, tỉnh B, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/01/2022, ông Tăng Văn Để đang ngủ trong nhà tại Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh B. Lúc này, bị cáo Trần T là chủ cửa hàng vật liệu xây dựng Trần Thiên ở bên cạnh nhà ông Để đã say rượu nhớ đến việc ông Để còn thiếu số tiền 9.000.000 đồng nhưng không trả nên bị cáo đi đến trước cửa nhà chửi và đập phá tài sản. Ông Để điện thoại trình báo công an xã Lộc Ninh sự việc và mở cửa nhà sau chạy ra phía sau nhà, cùng lúc này, ông Ngô Tới Em làm người làm thuê cho bị cáo từ cửa hàng của bị cáo đi đến chứng kiến sự việc, một lúc sau bà Trần Phạm Anh Thư vợ bị cáo cùng ông Nguyễn Thành Trung người làm thuê cho bị cáo đi đến căn ngăn và kéo bị cáo đi về. Sau khi tiếp nhận tin báo từ ông Để, trưởng công an xã Lộc Ninh phân công ông Danh H, Nguyễn Thanh Điện là công an viên phối hợp cùng ông Huỳnh Bá Nghiêm lực lượng dân quân thường trực đến nhà ông Để để xác minh sự việc. Khi thấy lực lượng công an xã đến nhà ông Để, bị cáo tiếp tục đi đến nhà ông Để dùng cục bê tông chọi vào hai cột rào nhà ông Để, lực lượng công an xã yêu cầu bị cáo dừng hành vi đập phá và đi về nhưng bị cáo không về nhà mà có hành vi chửi thô tục và dùng tay đẩy vào mặt ông Danh H thì được ông Tới, bà Thư và ông Trung can ngăn kéo bị cáo về nhà, bị cáo vùng vẫy la lớn nhiều lần. Khi thoát ra được, bị cáo chạy về phía ông Huy dùng chân đạp vào người ông Huy thì bà Thư, ông Tới Em và ông Trung tiếp tục can ngăn kéo bị cáo đi về, Công an xã Lộc Ninh báo cáo sự việc đến Công an huyện Hồng Dân hổ trợ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS HD ngày 29/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh B truy tố bị cáo về tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, b, s khoản 1 Điều 51; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội Chống người thi hành công vụ, ngoài ra còn đề nghị về án phí.
Bị cáo xác định, trong quá trình điều tra không bị ép cung hay hướng dẫn khai không đúng, việc điều tra truy tố và xét xử bị cáo tại phiên tòa hôm nay là không bị oan, vì bị cáo có dùng tay và chân đạp vào lực lượng công an xã đang làm nhiệm vu. Bị cáo yêu cầu được hưởng án treo do có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Người có quyền lợi liên quan đến vụ án đề nghị xử lý bị cáo theo quy định, về bồi thường thiệt hại đã nhận tiền bồi thường xong nên không yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, nên hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/01/2022, bị cáo Trần T sau khi uống rượu bia có hành vi chửi và đập phá tài sản của ông Tăng Văn Để nên ông Để điện thoại báo công an xã Lộc Ninh sự việc. Ông Danh H và ông Nguyễn Thanh Điện, là công an viên xã Lộc Ninh được lãnh đạo phân công phối hợp cùng ông Huỳnh Bá Nghiêm là dân quân thường trực đến nhà ông Để để xác minh sự việc. Sau khi lực lượng công an xã Lộc Ninh đến nơi, bị cáo tiếp tục có hành vi đập phá tài sản của ông Để và có lời lẽ xúc phạm, dùng tay đẩy vào mặt dùng chân đạp trúng vào người ông Danh H là có xảy ra trên thực tế.
Hành vi dùng tay đẩy vào mặt và dùng chân đạp trúng vào người ông Huy là công an viên khi ông Huy đang làm nhiệm vụ đã trực tiếp cản trở hoạt động bình thường của ông Huy do bị cáo thực hiện nêu trên đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà có đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự nên Viện Kiếm sát nhân dân huyện Hồng Dân tuy tố bị cáo về tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng, người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm hoạt động quản lý hành chính của chính quyền địa phương mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm, để giáo dục, cải tạo ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trong, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ít nghiêm trọng đã ăn năn hối cải và có nhân thân tốt.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ.
Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bị cáo, qua định giá tài sản bị thiệt hại của ông Để là 1.388.200 đồng, giữa bị cáo và Để đã thỏa thuận bồi thường xong, Cơ quan điều tra Công an huyện Hồng Dân ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.
Như đã phân tích, đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt, án phí đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần T, phạm tội Chống người thi hành công vụ.
2. Áp dụng điểm khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần T, 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Giao bị cáo Trần T cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
4. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an Huyện Hồng Dân; - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu; - Viện kiểm sát tỉnh Bạc Liêu - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân; - Công an xã Ninh Quới A; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện; - Thi hành án hình sự huyện; - Các đương sự; - Lưu VP - hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TO PHIÊN TOÀ Cao Văn Tám |