vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 09/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn K Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 17/2022/HS-ST
Ngày: 09-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Rạt.

Ông Nguyễn Thanh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 15/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Văn K, sinh năm 1988, tại An Giang; Nơi thường trú: Ấp M, xã P, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn G và bà Đặng Thị H; Anh chị em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2004; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Tại bản án số 24/2020/HSST ngày 09/3/2020 của TAND huyện Đức Hòa tỉnh Long An xử phạt bị cáo 02 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 20/9/2021; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2021 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Nguyễn Thanh N, sinh năm: 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Đặng Thị H, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/12/2021, Lê Văn K đang ở phòng trọ của K tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì gặp người đàn ông tên Q không rõ nhân thân lai lịch. Lúc này, K hỏi mua của người đàn ông tên Q 1.800.000đồng chất ma túy dạng đá, Q đồng ý bán cho K một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet bên trong có chứa 05 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu và 01 túi nilon có rãnh khép bên trong có chứa chất ma túy. Sau đó, K sử dụng hết chất ma túy trong một đoạn ống nhựa vừa mua được, số ma túy còn lại K cất giấu trên gác trong nhà trọ. Đến 00 giờ 00 phút ngày 21/12/2021, lực lượng Công an kiểm tra phòng trọ của K phát hiện số ma túy K đang tàng trữ nên lập biên bản bắt quả tang. Vật chứng tạm giữ quả tang gồm: 04 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu và 01 túi nilon có rãnh khép bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và một bao thuốc lá nhãn hiệu Jet. Tại Kết luận giám định số 1076/2021/KLGĐ ngày 28/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận “Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon có rãnh khép và 04 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, được niêm phong giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,1766 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSĐH ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Lê Văn K gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn K mức hình phạt từ ba năm đến ba năm sáu tháng tù.

Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon được niêm phong, bên trong chứa chất ma túy có tổng khối lượng 2.8761 gam, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet.

- Về trách nhiệm dân sự: không có.

Đối với người đàn ông tên Q bán ma túy cho bị cáo K, do không rõ nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, không có căn cứ để xử lý nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn K trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang đã có đủ căn cứ xác định vào ngày 21/12/2021, bị cáo Lê Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 04 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu và 01 gói nilon có rãnh khép bên trong có chứa chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Kết quả giám định số ma túy mà bị cáo K cất giữ có khối lượng 3,1766gam, loại Methamphetamine.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn K với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Ngày 09/3/2020 bị cáo Lê Văn K đã bị TAND huyện Đức Hòa xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 20/9/2021 chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội với cùng một tội danh thuộc trường hợp tái phạm và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông bà nội và cô ruột là người có công với Cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Văn K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 túi nilon được niêm phong, bên trong chứa chất ma túy có tổng khối lượng 2.8761 gam, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

. Về trách nhiệm dân sự: không có.

. Đối với người đàn ông tên Q bán ma túy cho bị cáo K, do không rõ nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn K 45 ngày sau khi tuyên án (ngày 09/3/2022) để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon được niêm phong, bên trong chứa chất ma túy có tổng khối lượng 2.8761 gam, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 46-18/02/2022 ngày 18/02/2022.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Văn K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.

Án này là sơ thẩm. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ