vanban.org

Bản án 17/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/12/2021.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, bên trong lắp sim số thuê bao 0379891423 đã qua sử dụng. Trả lại chị Đỗ Thị Mai H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29X3-44515, số máy 1065324; số khung 207293, đã qua sử dụng (Các vật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Thị P tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/12/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày: 31 - 3 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ

Bà Nguyễn Thị Sen

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2022, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn P, sinh năm 1966 tại huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Cụm 1, xã H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Loan và bà Nguyễn Thị Bột (đều đã chết); có vợ và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/6/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong hình phạt); ngày 27/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 15/4/2019, đã được xóa án; danh bản, chỉ bản số 017 của Công an huyện Đan Phượng lập ngày 02/01/2022; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2021 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Mai H, sinh năm 2001; trú tại: Cụm 1, xã H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; có mặt.

- 1 -

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; trú tại: Cụm 7, xã H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 25/12/2021, Nguyễn Văn P, sinh năm 1966 ở Cụm 1, xã H, huyện Đan Phượng đang ở nhà thì nhận được điện thoại có 03 số cuối là 896 của một người giới thiệu tên là Thưởng hỏi mua của Phượng 200.000 đồng ma túy Heroine. Do trước đó Phượng đã mua 01 gói heroine sử dụng còn một nửa nên Phượng đã đồng ý bán số ma túy còn lại với giá 200.000 đồng, rồi hẹn Thưởng ra khu vực điếm canh đê gần nhà để giao hàng và nhận tiền. Khi Phượng cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29X3-44515, số máy JA39E1065324; số khung RLHJA3917KY207293 đến điểm hẹn thì thấy Thưởng đang đứng chờ, Phượng dừng xe đứng cạnh Thưởng chuẩn bị giao ma túy và nhận tiền thì bị lực lượng Công an xã H bắt giữ, Thưởng bỏ chạy mất. Công an thu giữ trong lòng bàn tay trái của Phượng 01 gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước 0,5x0,1cm bên trong chứa ma túy Heroine.

Tại Kết luận giám định số 17/KLGĐ-PC09 ngày 02/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,111 gam.

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-ĐP ngày 16 tháng 03 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phượng từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine đã niêm phong sau khi giám định; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, bên trong lắp sim số thuê bao 0379891423 đã qua sử dụng; trả lại chị Đỗ Thị Mai H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29X3-44515, số máy JA39E1065324; số khung RLHJA3917KY207293.

- 2 -

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 25/12/2021, tại khu vực điếm canh đê thuộc Cụm 1, xã H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn P có mang 01 gói Heroine khối lượng là 0,111 gam, mục đích để bán cho người có tên là Thưởng, với giá là 200.000 đồng. Khi Phượng đang chuẩn bị giao ma túy cho Thưởng và nhận tiền thì bị Công an xã H bắt quả tang, Thưởng bỏ chạy mất. Công an đã thu giữ gói ma túy trong lòng bàn tay trái của Phượng, 01 chiếc xe máy và điện thoại di động.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn P đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bởi lẽ, ma túy có tác hại rất lớn đối với sức khỏe của người sử dụng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo đã từng hai lần bị Tòa án xét xử phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù bị cáo đã được xóa án nhưng về nhân thân là xấu; mặt khác, cũng thể hiện bị cáo không có ý thức sửa chữa sai phạm, mà do coi thường pháp luật nên tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

- 3 -

hình sự, đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định để đảm bảo cho việc thi hành án, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn P khai về nguồn gốc gói ma túy là do Phượng mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực đê, gần nhà ở của Phượng và đối tượng có tên Thưởng là người hỏi mua ma túy của Phượng, Cơ quan Công an đã tiến hành xác minh nhưng do Phượng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không làm rõ được nhân thân của những người đó, vì vậy không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 túi ma tuý Heroine sau khi giám định đã được niêm phong trong bao gói, do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Vật chứng là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, bên trong lắp sim số thuê bao 0379891423 đã qua sử dụng, bị cáo Phượng sử dụng để liên hệ trong việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29X3-44515, số máy JA39E1065324; số khung RLHJA3917KY207293, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Đỗ Thị Mai H, do Phượng sử dụng chiếc xe đi bán ma túy chị Hoa không biết nên trả lại chiếc xe cho chị Hoa.

Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/12/2021.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy gói ma túy Heroine đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội niêm phong trong bao gói.

- 4 -

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, bên trong lắp sim số thuê bao 0379891423 đã qua sử dụng.

Trả lại chị Đỗ Thị Mai H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29X3-44515, số máy 1065324; số khung 207293, đã qua sử dụng (Các vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/03/2022 với Công an huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ