- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2022/HS-PT Ngày: 07-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Hữu Chiến.
Các Thẩm phán: ông Phạm Văn Tâm;
Bà Phạm Thị Thùy Trang.
- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Minh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm chưa thành niên thụ lý số: 15/2022/TLPT-HS-CTN ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2022/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1965 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố L, phường L1, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc H; vợ tên Nguyễn Thúy N; con có 02 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 02/5/1990 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm về tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: cháu Trần Quốc H; sinh năm 2014 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: anh Lý C, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp C1, xã M, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (cha bị hại), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 04-3-2022, Nguyễn Thanh T có giấy phép lái xe theo quy định, điều xe ô tô đầu kéo biển số 70C- 055.41 kéo theo Rơ Moóc biển số 70R-014.17 lưu thông trên đường nhựa hướng từ xã Suối Ngô về xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Đông Lợi, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, T điều khiển xe thiếu quan sát phía trước nên xe T điều khiển va chạm vào xe đạp do em Trần Quốc H, sinh năm 2014 đang điều khiển phía trước cùng chiều. Va chạm xảy ra làm em H té ngã xuống đường bị xe cán qua người, tử vong tại hiện trường.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và tự nguyện bồi thường tiền cho đại diện người bị hại để khắc phục một phần hậu quả do hành vi của mình gây ra.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 39/2022/TT, ngày 10-3-2022 của Trung tâm pháp y, Sở y tế Tây Ninh, kết luận: Trần Quốc H chết do Sốc đa chấn thương.
Về trách nhiệm dân sự: anh Lý C là cha ruột của bị hại Trần Quốc H đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của chủ xe và bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 118.000.000 đồng. Ngày 17-3-2022, anh Lý C làm đơn xin bãi nại yêu cầu không xử lý hình sự đối với Nguyễn Thanh T và không yêu cầu Nguyễn Thanh T phải bồi thường gì thêm.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Thu giữ xe ô tô đầu kéo biển số 70C-055.41, Rơ Moóc biển số 70R-014.17 và các giấy tờ có liên quan, đã trả cho Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1988 là người được chủ sở hữu ủy quyền nhận tài sản; xe đạp do Trần Quốc H điều khiển, đã trả cho Lý C là cha của H.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2022/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 03-10-2022, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên kháng cáo.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 90/2022/HS-ST ngày 23-9-2022 của Toà án nhân dân huyện T Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo Nguyễn Thanh T không có ý kiến tranh luận.
Anh Lý C xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo T hưởng án treo để có điều kiện lao động chăm sóc gia đình, vì tai nạn là chuyện ngoài ý muốn.
Lời nói sau cùng của bị cáo T: xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện lao động, phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm nên các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Vào khoảng 10 giờ ngày 04/3/2022, bị cáo Nguyễn Thanh T điều xe ô tô đầu kéo biển số 70C- 055.41 kéo theo Rơ Moóc biển số 70R-014.17 lưu thông trên đường nhựa thuộc địa phận ấp Đông Lợi, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, do thiếu quan sát phía trước nên xe của bị cáo T điều khiển đụng vào xe đạp do cháu Trần Quốc H đang điều khiển phía trước cùng chiều, va chạm xảy ra làm cháu H té ngã xuống đường bị xe cán qua người, tử vong tại hiện trường.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản hiện trường, lời khai người làm chứng cùng với vật chứng và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn nă hối cải; đã bồi thường số tiền 118.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, đúng tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo thấy rằng: bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s Khoản 1 và có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp, việc làm và thu nhập ổn định; xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đối chiếu hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo T đủ điều kiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là không cùng quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T;
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 90/2022/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 260; Điều 54; Điều 65; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 07-12-2022).
Giao bị cáo Nguyễn Thanh T về Ủy ban nhân dân phường L1, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thanh T không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1. TANDTC. tại Hà Nội; - TAND Cấp cao; - VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh TN; - Công an huyện Tân Châu; - TAND huyện Tân Châu; - CCTHADS huyện Tân Châu; - VKSND huyện T Thành; - Phòng PV 06 Công an tỉnh; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh; - Phòng KTNV. TAND tỉnh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu THS; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Chiến |