vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Trần. Th. H. L là người trực tiếp nuôi con chung, tên là M. Ng. B. Tr, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015; Ông M. Văn. V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông M. Văn. V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở ông V thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn L-V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-5-2022
V/v “Ly hôn, nuôi con chung khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thuận

Bà Trịnh Thị Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà, Thư ký Tòa của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chăm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, thụ lý số 83/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần. Th. H. L

Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1983

Địa chỉ: 351 ấp B xã L thành phố T tỉnh L

- Bị đơn: Ông M. Văn. V

Sinh ngày 08 tháng 02 năm 1982

Địa chỉ: 351 ấp B xã L thành phố T tỉnh L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần. Th. H. L trình bày: Bà và ông V kết hôn với nhau vào năm 2003. Vợ chồng chung sống hạnh phúc trong 17 năm. Tuy nhiên, khi ông V có quan hệ với người phụ nữ khác thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thậm chí, ông V còn đánh bà vì ghen tuông vô cớ. Không thể chịu đựng được nên bà đã thuê nhà trọ để sống. Tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Về con chung: bà và ông V có hai người con chung, tên là M. Nh> T, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2004 và M. Ng. B. Tr, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi các con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Ông M. Văn. V đến tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15 tháng 4 năm 2022 nhưng không trình bày gì tại phiên họp mà chỉ yêu cầu bà L rút đơn khởi kiện và ông V không đồng ý ký vào bất cứ biên bản nào của Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình tố tụng.

Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết các vấn đề khác theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Trần. Th. H. L và ông M. Văn. V là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, do ông V không quan tâm đến gia đình, có quan hệ với người phụ nữ khác, thậm chí có hành vi bạo hành đối với bà. Thời gian đầu, bà đã cố gắng chịu đựng vì con nhưng tình trạng hôn nhân giữa bà và ông V không những không cải thiện mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà không thể chung sống cùng ông V nên đã thuê nhà trọ. Tình cảm vợ chồng không còn và không thể kéo dài tình trạng hôn nhân hiện tại, bà Trần. Th. H. L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M. Văn. V. Theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý và giải quyết vụ án.

Ông M. Văn. V có tham gia tố tụng, tuy nhiên không ký vào bất cứ văn bản nào của Tòa án nhân dân thành phố T. Ông V không tham gia phiên tòa; Bà Trần. Th. H. L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố T xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà L và ông V xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2003, nên áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000) để giải quyết về nội dung, theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình.

Mặc dù ông M. Văn. V có văn bản cam kết sẽ khắc phục, sửa chữa những sai lầm để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, thực tế, ông V không có hành động nào để cải thiện tình trạng hôn nhân nên bà Trần. Th. H. L không đồng ý đoàn tụ. Tình trạng hôn nhân giữa ông V và bà L không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, khó có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần. Th. H. L theo quy định tại Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000).

Về con chung, bà L và ông V có hai người con chung, tên là M. Nh. T, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2004, đã thành niên và M. Ng. B. Tr, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015, bà L có nguyện vọng trực tiếp nuôi B. Tr, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu này của bà L phù hợp với quy định của pháp luật. Hơn nữa, ông M. Văn. V không có ý kiến gì về việc trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, dù Tòa án đã giải thích và yêu cầu ông trình bày ý kiến. Do vậy, chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của bà L. Do nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên ông M. Văn. V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, do không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Bà Trần. Th. H. L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 89, Điều 91, Điều 92, Điều 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000), Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 238, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần. Th. H. L đối với ông M. Văn. V.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Trần. Th. H. L là người trực tiếp nuôi con chung, tên là M. Ng. B. Tr, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015; Ông M. Văn. V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông M. Văn. V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở ông V thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định

Về án phí: Bà Trần. Th. H. L chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp (theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001462 ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T tỉnh L) thành án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ