- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc Thật - Lê Trường Giang"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2022. V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Phương.
2. Ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 52/2022/HNGĐ-ST, ngày 19/4/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 14/6/2022, về việc "Xin ly hôn", giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1980. (Có mặt)
Trú tại: Khu vực M, phường LH, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Lê Trường G, sinh năm: 1980. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu vực M, phường LH, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/3/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Chị T và anh G do mai mối sau đó tìm hiểu nhau một thời gian sau đó quyết định đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phụng Hiệp; hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn do cả hai không phù hợp về tính cách, anh G không lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu, không tôn trọng chị T; mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn lại được nên anh chị đã ly thân hơn 05 tháng nay. Hiện nay chị T và anh G mỗi người có một cuộc sống riêng, chị T nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu được ly hôn với anh G.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc H (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/5/2007. Hiện nay con chung đang sống với chị T, sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh G cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bị đơn trình bày: Bị đơn thừa nhận hoàn toàn lời trình bày của nguyên đơn về năm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Bị đơn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn vì còn thương vợ con, bị đơn muốn hàn gắn lại hạnh phúc gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn anh Lê Trường G; Về con chung: giao con chung cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh G chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp xin ly hôn và bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực 1, phường LH, thành phố NB, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Lê Trường G đã được tống đạt hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh G do mai mối, sau đó tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phụng Hiệp, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, anh G thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, không tôn trọng chị T. Mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn lại được nên anh chị đã ly thân khoảng 05 tháng nay. Nhận thấy chị T và anh G đã không sống chung trong một thời gian, anh chị không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm chị T đối với anh G không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn anh G theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc H (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/5/2007. Từ khi ly thân đến nay con chung sinh sống cùng với mẹ. Ngoài ra, cháu Hân có nguyện vọng sống cùng mẹ. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung cho chị T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh G chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Lê Trường G không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; Điều 56; Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn anh Lê Trường G.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc H (giới tính: Nữ), sinh ngày 28/5/2007 cho chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh G chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Lê Trường G không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008673 ngày 19/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/6/2022). Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi bị đơn cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND TP. Ngã Bảy; - CCTHA TP. Ngã Bảy; - UBND phường LH; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Kim Cƣơng |