- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị N ly hôn, tranh chấp về nuôi con với Nguyễn Văn Th"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị N đối với anh Nguyễn Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST. Ngày 06-4-2022. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đình Nhung;
Bà Hà Thị Cẩm Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 577/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1972 – Xin vắng mặt;
Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Khu phố LK, phường GL, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ tạm trú: Ấp XĐ, xã TP, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1971 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố LK, phường GL, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày:
Chị và anh Th tự chung sống với nhau vào năm 1991, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã GL, huyện Trảng Bàng (nay là phường GL, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với mẹ anh Th tại ấp LK, xã GL (nay là khu phố LK, phường GL). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th thường xuyên gây nợ nần nên vợ chồng hay cãi nhau. Mỗi lần cãi nhau, anh Th nhiều lần cầm dao đuổi chém chị, nhưng chị bỏ chạy được nên không bị thương tích gì. Chị có yêu cầu Công an phường GL giải quyết nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Sau đó chị còn phát hiện anh Th có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên chị bỏ về nhà mẹ ruột chị sống và vợ chồng ly thân từ tháng 5-2020 đến nay. Từ khi ly thân, chị và anh Th không ai đặt vấn đề đoàn tụ.
Nay chị yêu cầu được ly hôn anh Th.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên: Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 25-9-1993 đã có gia đình ra sống riêng và Nguyễn Hồng Nhựt L, sinh ngày 15-01-2007 hiện đang sống chung với chị N. Khi ly hôn chị không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu Thùy L do cháu đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhựt L, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh Th đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh Th không đến nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh Th.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây
Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn Th.
Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 25-9-1993 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết việc nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Hồng Nhựt L, sinh ngày 15-01-2007 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Chị Trần Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn Th vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Th chung sống với nhau vào năm 1991, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã GL, huyện Trảng Bàng (nay là phường GL, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày là do anh Th thường xuyên gây nợ nần nên vợ chồng hay cãi nhau. Mỗi lần cãi nhau, anh Th nhiều lần cầm dao đuổi chém chị và do anh Th có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Qua xác minh tại địa phương không thể hiện được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị N và anh Th, xác minh tại Công an phường GL cũng không còn lưu trữ hồ sơ giải quyết việc anh Th đuổi chém chị N. Nhưng chị N và anh Th đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ, đồng thời Tòa án đã nhiều lần mời anh Th đến Tòa làm việc, hòa giải nhưng anh Th không đến, cho thấy anh Th không có thiện chí hàn gắn với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh Th trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn anh Th theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị N và anh Th có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 25-9-1993 đã có gia đình ra sống riêng và Nguyễn Hồng Nhựt L, sinh ngày 15-01-2007 hiện đang sống chung với chị. Đối với cháu Thùy L hiện đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết việc nuôi dưỡng. Nay chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhựt L. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị N và anh Th ly thân, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhựt L, hiện cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần. Qua làm việc, cháu Nhựt L cũng có nguyện vọng được theo sống với chị N. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu Nhựt L nên Hội đồng xét xử giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhựt L là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải
quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị N đối với anh Nguyễn Văn Th. Chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn Th.
2. Về con chung:
Cháu Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 25-9-1993 đã trưởng thành, tự lao
động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết việc nuôi dưỡng.
Giao cháu Nguyễn Hồng Nhựt L, sinh ngày 15-01-2007 cho chị Trần Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị N không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh Th không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014715 ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Báo cho chị N, anh Th biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường GL; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Linh Ngọc |