vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Hồ Văn Thọ.

Về con: Giao cháu Hồ Tiến Dũng, sinh ngày 22/01/2014 cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng; anh Thọ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Mai Thị Khuyên phải chịu án phí DSST về việc ly hôn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai THị K-Hồ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Hồ Văn Thọ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hạnh

2. Bà Dương Thị Thắm

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:

Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị Khuyên - Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Thôn Lục Hải, xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt);

2. Bị đơn: Anh Hồ Văn Thọ - Sinh năm: 1988

Địa chỉ: Thôn Lục Sơn, xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 04/01/2022, bản tự khai nguyên đơn chị Mai Thị Khuyên trình bày: chị và anh Thọ kết hôn với nhau vào ngày 14/01/2013, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga Giáp cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: do anh Thọ nghiện ma túy, sống không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2015 đến nay.Trong thời gian sống ly thân, chị và anh Thọ không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị đề nghị Tòa giải quyết ly hôn anh Thọ theo quy định; Về con: vợ chồng có 01 con chung là Hồ Tiến Dũng, sinh ngày 22/01/2014. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Dũng; không yêu cầu anh Thọ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản: vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Hồ Văn Thọ, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng anh Thọ cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Thọ vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù anh Thọ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Khuyên vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với bị đơn, anh Thọ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Thọ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Thọ.Về con: giao cháu Hồ Tiến Dũng, sinh ngày 22/01/2014 cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng; anh Thọ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Khuyên phải chịu án phí DSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Mai Thị Khuyên và anh Hồ Văn Thọ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.Theo nguyên đơn trình bày: sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do: anh Thọ nghiện ma túy, không chăm lo đến gia đình.Vơ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân không ai còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Chị Khuyên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Thọ theo quy định. Xét cuộc sống chung của chị Khuyên và anh Thọ đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Khuyên, cho chị Khuyên ly hôn anh Thọ là phù hợp quy định.

Về con: vợ chồng có 01 con chung là Hồ Tiến Dũng, sinh ngày 22/01/2014. Sau ly hôn, chị Khuyên đề nghị được trực tiếp nuôi con; không yêu cầu anh Thọ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu về nuôi con của chị Khuyên là hoàn toàn phù hợp. Thực tế xác minh tại xã Nga Giáp thì cháu Dũng đang sống cùng chị Khuyên. Nguyện vọng của cháu Dũng là muốn được ở với mẹ. Để cuộc sống của cháu được ổn định nên giao con cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế cũng như quy định của pháp luật.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Khuyên không yêu cầu nên anh Thọ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Khuyên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Mai Thị Khuyên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Khuyên, cho chị Khuyên được ly hôn anh Hồ Văn Thọ.

2. Về con: Giao cháu Hồ Tiến Dũng, sinh ngày 22/01/2014 cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng; anh Thọ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Mai Thị Khuyên phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0014818 ngày 05/01/2022 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Khuyên đã nộp đủ án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Chị Khuyên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Thọ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ